Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Đào tạo y khoa tại Mỹ


1. Giới thiệu hệ thống y tế Mỹ
Hệ thống đào tạo y Mỹ khá đắt đỏ, với trên 140 trường y và hàng ngàn chương trình sau đại học. Có cả trường công và trường tư, lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Hệ thống y tế Mỹ cũng thuộc hạng đắt đỏ, với hình thức chi trả hỗn hợp công và tư.

2. Lịch sử đào tạo y khoa tại Mỹ
Đào tạo y khoa khá khác nhau trước thế kỉ 20. Sự kiện nổi bật của đào tạo y khoa Mỹ là việc áp dụng hình thức đi thực tập lâm sàng (clerkship) giành cho sinh viên y. Sau đó là áp dụng cấu trúc chương trình gồm 2 năm đầu học "tiền lâm sàng" và 2 năm sau học "lâm sàng". Đến năm 1930, 1940 thì việc đào tạo chuyên sâu được mở rộng. Hiện tại chương trình đào tạo y khoa có hai nhánh chính: Tây khoa (allopathic medicine) và Vật lý trị liệu (osteopathic medicine). Hàng năm có khoảng 85% bác sĩ theo học Tây khoa và 15% bác sĩ theo học vật lý trị liệu.

3. Trở thành bác sĩ tại Mỹ
Đào tạo y tại Mỹ khác với châu Âu và các nước khác trên thế giới. Sau khi kết thúc cấp 3, sinh viên tham gia học tại một trường cao đẳng hoặc đại học để lấy bằng Cử nhân 4 năm về ngành khoa học trước khi nộp đơn xin học trường y.

Có nhiều yếu tố được cân nhắc để xét tuyển sinh viên đậu vào trường y khoa. Đầu tiên là sinh viên phải tham gia một Kỳ thi đầu vào y khoa (The Medical College Admission Test - MCAT: https://www.aamc.org/students/applying/mcat/). Kỳ thi chuẩn này đánh giá kiến thức về khoa học sinh học, khoa học sinh lý và luân lý miệng (verbal reasoning) và viết luận. Điểm MCAT được dùng hầu hết ở các trường y khoa để xét tuyển sinh viên. Ngoài ra, các yếu tố khác được cân nhắc bao gồm: điểm của bậc đại học trước đó, thư giới thiệu, thư bày tỏ nguyện vọng cá nhân, các kinh nghiệm tình nguyện, lãnh đạo, y khoa và phỏng vấn trực tiếp.

Sau khi học trường y 4 năm, sinh viên nhận bằng Bác sĩ y khoa (Medical Doctor - MD) hoặc Bác sĩ vật lý trị liệu (Doctor of Osteopathic Medicine - DO) do trường cấp. Vào năm cuối y khoa, sinh viên nộp đơn xin đi nội trú tại bệnh viện (chương trình nội trú tại bệnh viện này có tên tiếng anh là Graduate Medical Education - GME) thông qua một chương trình kết nối nhu cầu của sinh viên và nhu cầu của các bệnh viện (the National Residency Match Programs: http://www.nrmp.org/). Sinh viên phải thực tập 3 đến 7 năm trong chương trình nội trú này (residency training) tùy thuộc chuyên ngành (ví dụ: nội khoa thì chỉ cần 3 năm) và một số sinh viên có thể theo học khóa đào tạo sau nội trú (tên tiếng anh là fellowship training). Ví dụ một bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa nhi có thể học nội trú nhi và học sau nội trú tiêu hóa.

Sau khi hoàn thành chương trình nội trú (và sau nội trú), bác sĩ phải trải qua kì thi để được cấp chứng chỉ hành nghề (board certification) bởi các Hội đồng y khoa chuyên sâu Mỹ (The American Board of Medical Specialities: http://www.abms.org/) với 24 hội đồng chuyên ngành. Chứng chỉ có hiệu lực 6 đến 10 năm. Mỗi bang của Mỹ có một Hội đồng cấp chứng chỉ hành nghề y khoa. Yêu cầu được cấp chứng chỉ hành nghề y khoa gồm: hoàn thành chương trình đại học y khoa, trải qua kì thi cấp chứng chỉ, có tối thiểu 1 năm đi thực tập nội trú tại bệnh viện, đạt các tiêu chuẩn về y đức (ethical standards). Kì thi cấp chứng chỉ hành nghề y gồm 3 kì thi nhỏ: 2 kì thi đầu được hoàn thành trong khi học y khoa tại trường đại học, và kì thi thứ 3 vào cuối năm đầu tiên đi thực tập bệnh viện GME.Kì thi cấp chứng chỉ giành cho Tây khoa do The United States Medical Licensing exam - USMLE: http://www.usmle.org/) tổ chức và kỳ thi cấp chứng chỉ giành cho Y học vật lý trí liệu do The Comprehensive Osteopathic Medical Licensing Examination: https://www.nbome.org/docs/comlexBOI.pdf) tổ chức.

4. Đào tạo y bậc đại học (undergraduate medical education)
Tất cả các trường y Mỹ có chương trình đào tạo 4 năm được cấp chứng nhận bởi Hội đồng đào tạo Y quốc gia (The Liaison Committee on Medical Education: http://www.lcme.org/). Có 126 trường y đào tạo Tây khoa và phân bố 44 trên tổng số 50 bang của Mỹ. 58% là trường công và 41% là trường tư.  Các trường đào tạo bác sĩ vật lý trị liệu được cấp chứng nhận đào tạo bởi Hội Y học vật lý trị liệu Mỹ (http://www.osteopathic.org/Pages/default.aspx).

Sinh viên học trung bình 21h/tuần trực tiếp trong vòng 38 tuần/năm trong 2 năm đầu "tiền lâm sàng". Sau đó, sinh viên học 38-47 tuần/năm vào hai năm "lâm sàng" tiếp theo. Phương pháp dạy hai năm đầu chủ yếu là giảng (lecture) và học thông qua ca lâm sàng (case-base learning) với thực tập labo. Hai năm sau học lâm sàng thì chủ yếu tổ chức dưới dạng đi các đợt thực tập lâm sàng bắt buộc (clerkships) như tại khoa nội, phẩu thuật và các đợt thực tập tùy chọn vào năm cuối. Khi đi thực tập, sinh viên làm việc với bác sĩ và những người hướng dẫn sinh viên (như sinh viện nội trú y lớn hơn). Phương pháp học dạng "simulation" được áp dụng trên 90% các trường y.

Đánh giá thực tập bằng nhiều cách. Bằng hệ thống đánh giá lâm sàng tổng hợp RIEM trong 42% các chương trình thực tập y nội. Kiểm tra kiến thức và Kì thi lâm sàng được tổ chức khác quan (Objective Structured Clinical Exam), bài luận, hồ sơ cá nhân của sinh viên (portfolio), các phòng thực hành kĩ năng lâm sàng (clinical skill labs) và xử lý các tình huống bệnh nhân chuẩn (standardized patient encounter).

5. Đào tạo y khoa sau đại học (graduate medical education)
Sau khi hoàn thành chương trình đại học, bác sĩ tham gia đi nội trú tại bệnh viện GME. Năm đầu tiên được gọi là "intership" hoặc postgraduate year 1 resident (PGY-1) và cuối năm thì trải qua kì thi cấp chứng chỉ hành nghề. Những năm tiếp theo sinh viên được gọi là "resident" cho đến khi được cấp chứng chỉ chuyên ngành chuyên sâu đó.  

Sau khi hoàn thành GME, nếu muốn học chuyên sâu hơn (ví dụ: ung thư, phẩu thuật ung thư), bác sĩ có thể xin học "fellowship".

Tất cả các chương trình nội trú GME được thẩm định bởi hội đồng thẩm định GME (The Accreditation Council of Graduate Medical Education: https://www.acgme.org/acgmeweb/). Một bác sĩ sau khi hoàn thành năm đầu tiên của GME có thể được cấp chứng chỉ hành nghề nhưng hầu hết bác sĩ đều theo học nội trú  dài hơn (residency program).
Hiện tại có 93.000 sinh viện nội trú trong 4.100 chương trình nội trú và 18.000 sinh viên sau nội trú (fellowship) trong 4.800 chương trình. Sinh viên nội trú được trả lương.

Sau khi hành nghề, các bác sĩ được yêu cầu theo học các khóa đào tọa liên tục (continuing medical education - CME) thường khoảng 50h/năm để được cấp mới chứng chỉ hành nghề.

6. Những chủ đề và thách thức trong đào tạo y tại Mỹ
Từ năm 2005, 75% các trường Tây khoa đã tiến hành đổi mới chương trình. Trong đó chuyển 2 năm đầu dạy tiền lâm sàng và 2 năm sau dạy lâm sàng sang hướng cho sinh viên học lâm sàng sớm hơn theo hướng các chương trình được phân thành các module hay block cung cấp giáo dục dựa trên hệ thống-cơ quan thay vì dựa trên môn học-chuyên ngành (ví dụ: trước đây các năm học đầu  sinh viên học các môn cơ bản như sinh lý, giải phẩu...lên năm 3-4 mới học nội khoa, nhi..thì nay chương trình được phân thành các block như nhi, tiêu hóa, huyết học, và trong các block này sinh viên được học đồng thời từ các kiến thức cơ bản như giải phẩu, sinh lý đến bệnh học, điều trị).

Sinh viên y được yêu cầu trải qua các kì thư kĩ năng lâm sàng (clinical skill examination) bên cạnh các kì thi kiến thức dạng trắc nghiệm (multi-choice). Hội đồng quốc gia về kiểm tra y khoa (the National Board of Medical Examiners) đang đề nghị các phương thức đánh giá mới cho sinh viên. Vì đánh giá hiện tại không tiên lượng được khả năng thực hành và hiệu quả điều trị trên bệnh nhân.

Các điểm nổi bật về nghiên cứu liên quan đến đào tạo y khoa ở Mỹ bao gồm: các tờ báo đào tạo y đều đòi hỏi chứng nhận đạo đức (ethics approval) mới chấp nhận đăng bài báo. Chứng nhận đạo đức này được cấp bởi một hội đồng y đức của cơ sở (Institutional Review Board -IRB). Việc này làm cho việc đăng báo trở nên chậm trễ hơn. Do đó, gần đây quy định mới cho phép một IRB có thể cấp chứng nhận đạo đức cho những nghiên cứu đa trung tâm, và các nghiên cứu ít có nguy cơ can thiệp như đa số các nghiên cứu về đào tạo y khoa được thông qua chứng nhận đạo đức nhanh hơn.

Các nghiên cứu tập trung vào chủ đề sự lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên, cảm xúc và động lực học của sinh viên y, tự học...

Đào tạo dựa trên năng lực (competency-based training) là một sự cải tiến chính của GME thế kỉ vừa qua. Tất cả các chương trình phải được thiết kế và đánh giá xung quanh một trong sáu năng lực: chăm sóc bệnh nhân (patient care), kĩ năng giao tiếp và xã hội (interpersonal and communication skills), học và cải thiện dựa trên thực hành (practice-based learning), chuyên nghiệp (professionalism), thực hành dựa trên hệ thống (system-based practice). Mục tiêu của dạy học dựa trên năng lực  là hành vi (behavior) của sinh viên và xác định hành vi nào gắn với việc cung cấp chăm sóc chất lượng cho bệnh nhân. Hoặc đánh giá dựa trên các hoạt động chuyên môn hàng ngày (Entrustable Professional Activities - EPAs).

ACCME đang thay đổi các yêu cầu của GME để tăng hiệu quả của các GME.

Một thay đổi khác là giới hạn thời gian làm việc trong GME. Trước đây, không có giới hạn về thời gian làm việc trong GME, một số sinh viên nội trú làm việc thường 80-100h/tuần. Từ năm 2003, tất cả các sinh viên GME bị giới hạn không làm việc quá 80h/tuần và không quá 30h/một ca trực. Từ năm 2011, thời gian ca trực giảm xuống còn 16h liên tiếp với sinh viên GME năm đầu và không quá 24h với sinh viên GME năm sau đó. Quy định nằm giảm sự mệt mỏi của sinh viên và tăng chất lượng cuộc sống cũng như an toàn của bệnh nhân.

Một điểm yếu của hệ thống y tế Mỹ là mất cân đối giữa các chuyên khoa. Dù bác sĩ đa khoa -chăm sóc ban đầu (primary care physicain) mang lại lợi ích cho xã hội, nhưng vẫn thiếu bác sĩ đa khoa.
Một áp lực khác là hỗ trợ tài chính (funding) cho các chương trình GME. Vì các chương trình này đa số được hỗ trợ một phần bởi chính phủ. Chính phủ Mỹ hỗ trợ 3 tỷ USD/năm tương ứng 25.000USD/sinh viên nội trú/năm. Với áp lực nợ công, Mỹ đang có xu hướng giảm hỗ trợ tài chính cho các chương trình GME.

Bài viết được tóm tắt từ bài báo:
1. Deze JK at al. Medical education in the United States of America. Medical Teacher. 2012; 34; 521-25.  
Người dịch: DS. Võ Thị Hà

Giáo dục y khoa

1. Giáo dục đại học  (tên tiếng anh là undergraduate-entry programs or graduate-entry programs)

Thường chương trình được chia làm hai nhóm kiến thức chính: tiền lâm sàng và lâm sàng. Tiền lâm sàng gồm các kiến thức khoa học cơ bản như giải phẫu học, sinh lý học, hóa sinh, dược học, bệnh lý học. Lâm sàng bao gồm giảng dạy các kiến thức y học lâm sàng như nội khoa, nhi khoa, sản khoa và phụ khoa, tâm thần học, thực hành và phẫu thuật.

Hiện đã có xu hướng tổ chức các chương trình kết hợp đào tạo y với nghiên cứu y tế (như chương trình DO/Ph.D. hoặc MD/Ph.D.) hoặc kết hợp đào tạo y với các chương trình quản lý (management) như DO/MBA hoặc MD/MBA, mặc dù điều này đã bị chỉ trích là có thể có tác dụng làm sai lệch về kiến ​​thức lâm sàng cung cấp cho người học.

2. Giáo dục sau đại học (post-graduate)

Sau khi hoàn thành chương trình đại học, các bác sĩ mới tốt nghiệp thường được yêu cầu trải qua một thời gian thực tập khoảng 1 năm dưới sự giám sát của các bác sĩ thực hành tại bệnh viện hay cơ sở thực hành trước khi đăng ký cấp chứng nhận hành nghề. Chương trình thực tập này đường có tên tiếng anh là "internship", "provisional registration", "residency".
Sau khi hoàn thành, bác sĩ có thể hành nghề, hoặc tiếp tục học lên ngành chuyên sâu hơn. Ở một số nước yêu cầu bác sĩ phải được đào tạo kiến thức chung trước khi được đòa tọa chuyên sâu.

3. Đào tạo liên tục

Trong hầu hết các nước, các khóa học đào tạo liên tục (tên tiếng anh là continuing medical education - CME) là bắt buộc để tiếp tục được cấp phép lại giấy phép hành nghề (tức giấy phép hành nghề được cấp mỗi lần có giới hạn hiệu lực chỉ vài năm, và bác sĩ được yêu cầu tham gia tối thiểu một số CME để được cấp lại chứng chỉ hành nghề mới). Yêu cầu về CME khác nhau giữa các địa phương và các nước. Ở Mỹ, việc cấp chứng chỉ hành nghề y do Hội đồng Kiểm định Giáo dục Liên tục Y tế (Accreditation Council for Continuing Medical Education - ACCME) tiến hành. Các bác sĩ thường tham dự CME dưới dạng các bài giảng (lecture), học thông qua đi lâm sàng (grand rounds), các khóa học tổ chức tại các hội nghị khoa học, và các hoạt động cải thiện thực hành để đáp ứng yêu cầu của cấp mới chứng chỉ hành nghề.

4. Học trực tuyến (online learning)
Học trực tuyến ngày càng được áp dụng phổ biến hơn cho giáo dục y khoa trên thế giới với sự hỗ trợ bởi các hệ thống quản lý học tập (learning management systems - LMS) hoặc môi trường học tập ảo (virtual learning environments - VLEs), các ứng dụng sử dụng bệnh nhân ảo (virtual patients) hoặc bệnh án y khoa ảo (virtual medical records).

5. Ví dụ chương trình đào tạo y khoa một số nước
Hiện nay, ở Anh, một khóa học y khoa tiêu biểu ở đại học là 5 năm hoặc 4 năm nếu sinh viên đã có bằng đại học ngành khác (một số trường là 6 năm). Tất cả các chương trình này đều hướng tới cấp chứng chỉ Cử nhân Y khoa và Phẫu thuật (Bachelor of Medicine and Surgery degree). Tiếp theo là 2 năm thực tập lâm sàng F1 và F2 (internship training). Học sinh đăng ký với Hội đồng Y khoa Anh chung (the UK General Medical Council) vào cuối năm F1. Vào cuối năm F2, họ có thể theo đuổi học lên cao nữa nếu muốn. Hệ thống của Úc cũng tương tự với đăng kí hành nghề tại Hội đồng y khoa Úc (Australian Medical Council - AMC).

Tại Mỹ và Canada, một sinh viên y khoa đầu tiên phải hoàn tất một văn bằng đại học khác trước khi nộp đơn vào một trường y khoa để theo đuổi một chương trình y khoa (M.D. or D.O.). Trường y khoa của Mỹ thường có chương trình kéo dài 4 năm. Một số sinh viên chọn chương trình đào tạo y khoa kết hợp với nghiên cứu như DO / Ph.D. hoặc Bác sỹ / tiến sĩ (đây là những chương trình đào tạo kép) thường được hoàn thành trong 7-10 năm. Một số môn học là điều kiện tiên quyết để được chấp nhận vào trường y, như hóa học chung, hóa hữu cơ, vật lý, toán học, sinh học, tiếng Anh, thực tập tại phòng thí nghiệm...vv. Các yêu cầu cụ thể khác nhau tùy theo trường.

Ở Úc, có hai con đường để có bằng y khoa. Sinh viên có thể chọn học chương trình đại học y khoa kéo dài 5 hoặc 6 năm để nhận bằng Cử nhận về Y khoa/Cử nhân về Phẫu thuật như bằng cấp đầu tiền sau khi tốt nghiệp phổ thông. Hoặc hoàn thành một bằng cử nhân trước (thường kéo dài 3 năm, thường là bằng cấp về khoa học y tế) và sau đó theo học chương trình đại học y khoa kéo dài 4 năm.

Tài liệu tham khảo:

1. Wiki: https://en.wikipedia.org/wiki/Medical_education

Đào tạo dược tại Canada

ThS.DS. Võ Thị Hà1, ThS.DS. Trương Viết Thành2, TS.DS. Nguyễn Thị Liên Hương3
1. Giảng viên DLS, ĐH Y Dược Huế
2. Trưởng bộ môn DLS, ĐH Y Dược Huế
3. Trưởng bộ môn DLS, ĐH Dược HN

Hệ thống đào tạo cán bộ y tế Canada có 4 đặc điểm chính: (1) có hệ thống trường công mạnh, nặng về nghiên cứu, không có trường tư; (2) hệ thống y tế công toàn diện, không có bệnh viện tư và rất ít các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân ; (3) hệ thống quản lý cán bộ y tế dựa trên các ban cấp chứng chỉ hành nghề tại địa phương; và (4) các nhóm nghề nghiệp, quản lý và giáo dục tồn tại độc lập nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau.

Hệ thống giáo dục                                           
Tại Canada, có sự phân tách quyền lực rõ ràng giữa Chính quyền trung ươngChính quyền vùng. Chính quyền vùng chịu trách nhiệm điều hành chăm sóc y tế tại địa phương và giáo dục đại học trong khi Chính quyền trung ương chịu trách nhiệm thiết lập tiêu chuẩn chăm sóc y tế và cung cấp tài chính. Vì vậy, có sự khác nhau về quy định, yêu cầu cấp chứng chỉ hành nghề và yêu cầu đào tạo khác nhau giữa các vùng.

Canada có 35 triệu dân, có 10 trường dược, tất cả các trường đều là một phần của trường lớn hơn có đào tạo các ngành y tế khác. Tỷ lệ chọi của sinh viên dược rất cao. Trường Dược Toronto năm 2007 có 2.000 thí sinh nhưng chỉ chọn 240 sinh viên. Hàng năm có khoảng 1.400 sinh viên mới.

Chương trình đào tạo
Tất cả các chương trình đào tạo dược của Canada đều được công nhận bởi "Hội đồng chứng nhận chương trình đào tạo dược Canada " (Tên tiếng Anh là Canadian Council for Accreditation of Pharmacy Programs - CCAPP). Hội đồng CCAPP chịu trách nhiệm xây dựng các tiêu chuẩn đào tạo. Hội đồng này kiểm tra thường xuyên các chương trình đào tạo dược của các trường dựa theo các tiêu chuẩn đào tạo đã được thống nhất. Tiêu chuẩn đào tạo được xây dựng dựa trên sự hơp tác của các giảng viên, dược sĩ thực hành, nhà quản lý, nhà tuyển dụng. Chứng nhận của CCAPP có giá trị 6 năm.

Tiêu chuẩn của CCAPP cũng được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn đầu ra (outcome) giành cho các chương trình đào tạo dược do "Hiệp hội các trường dược Canada" biên soạn (Tên tiếng Anh là Association of Faculties of Pharmacy of Canada - AFPC) (Bảng 1). Các trường được tự do xây dựng chương trình đào tạo, triết lý giáo dục, phương pháp sư phạm miễn sao đáp ứng được các tiêu chuẩn đầu ra và các năng lực được yêu cầu. 


Bảng 1_Các tiêu chuẩn đầu ra về giáo dục của chương trình đại học về dược tại Canada (do Hội các trường dược Canada biên soạn)
Các tiêu chuẩn đầu ra đặc hiệu
1. Đáp ứng nhu cầu liên quan đến dùng thuốc của bệnh nhân
Sinh viên dược tốt nghiệp, hợp tác với bệnh nhân và các cán bộ y tế khác, sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để đáp ứng nhu cầu liên quan đến thuốc của bệnh nhân, nhằm đạt được kết quả tối ưu cho bệnh nhân và duy trì, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
2. Chịu trách nhiệm về nghề nghiệp-chuyên môn, đạo đức và pháp lý
Sinh viên dược tốt nghiệp sẽ có thể thực hành phù hợp với ác yêu cầu về pháp lý, các tiêu chuẩn thực hành nghề nghiệp-chuyên môn, và đạo đức, hoàn thành các trách nhiệm nghề nghiệp và góp phần phát triển nghề nghiệp.
3. Cung cấp thuốc và thông tin sử dụng thuốc và các khuyến cáo
Sinh viên dược tốt nghiệp cung cấp thông tin và các khuyến cáo cho từng cá nhân hay nhóm cá nhân liên quan đến thuốc và sử dụng thuốc, để bảo đảm chăm sóc bệnh nhân tối ưu và kinh tế - hiệu quả và cải thiện sức khỏe bệnh nhân.
4. Giáo dục về thuốc, sử dụng thuốc và nâng cao sức khỏe
Sinh viên dược tốt nghiệp giáo dục cho các cá nhân hay nhóm cá nhân nhằm thúc đẩy việc sử dụng thuốc hợp lý và nâng cao sức khỏe.
5. Quản lý phân phối thuốc
Sinh viên dược tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu của bệnh nhân về việc cung ứng chính xác các sản phẩm dược chất lượng bằng cách chịu trách nhiệm đảm nhận chức năng phân phối và pha chế các chế phẩm dược.
6. Hiểu các nguyên tắc quản lý thực hành
Sinh viên dược tốt nghiệp cho thấy sự hiểu biết của mình về các nguyên tắc quản lý với mục đích là tối ưu chăm sóc cho bệnh nhân  và tối ưu sử dụng các nguồn lực.
7. Áp dụng các nguyên tắc điều tra khoa học để góp phần giải quyết các vấn đề của nghề nghiệp/xã hội
Sinh viên dược tốt nghiệp sẽ ứng dụng các nguyên tắc điều tra khoa học để giải quyết các vấn đề thực hành.
Các tiêu chuẩn đầu ra chung
1. Kiến thức và khả năng suy nghĩ
2. Khả năng lên kế hoạch
3. Khả năng giao tiếp
4. Các nguyên tắc đạo đức và giá trị
5. Khả năng tự học theo định hướng của cá nhận
6. Bản sắc/Cá tính nghề nghiệp
7. Tinh thần công dân
 
Các trường có tiêu chuẩn tuyển chọn khác nhau. Chương trình đào tạo tối thiểu 5 năm, và hoàn thành sẽ được cấp bằng cử nhân dược (BSc). Hầu hết các trường có cấu trúc 1+4 tức sinh viên học 1 năm chuẩn bị với các môn hóa, tính toán, sinh học trước khi được chấp nhận vào học dược, trong khi một số trường có cấu trúc 2+4. Nội dung đào tạo của 4 năm sau đó khác nhau giữa các trường. Có trường thì phân thành các nhóm môn học với các môn cơ bản như bào chế, hóa dược, dược lý trong những năm đầu và sau đó là các môn lâm sàng vào năm cuối. Có trường đổi mới hơn thì thiết kế khung chương trình dựa theo vấn đề (problem-based curiculum), trong đó thảo luận nhóm nhỏ nhiều và các môn học được tích hợp với nhau nhiều hơn. Ví dụ, thiết kế theo chủ đề bệnh đái tháo đường: các giảng viên của các môn như sinh lý, bệnh lý, sinh hóa, dược lâm sàng sẽ cùng thảo luận với nhau để thiết kế một khóa học xoay quanh chủ đề này. 

Hành nghề
Cho đến năm 2007, bằng cử nhân dược là bằng có thể cho phép hành nghề, nhưng những năm gần đây 2 trường ở Quebec là trường Montreal và trường Laval đào tạo bằng PharmD (chương trình đào tạo dài hơn và thiên về dạy thực hành lâm sàng nhiều hơn) và xem đây là yêu cầu để có thể hành nghề.

Tuy nhiên, có bằng cử nhân BSc hay PharmD thôi chưa đủ để được cấp chứng chỉ hành nghề. Trong đa số trường hợp, các sinh viên tốt nghiệp phải trải qua các đợt thực tập sau khi tốt nghiệp được tổ chức, điều hành bởi "Hội đồng cấp chứng chỉ hành nghề của vùng" nhiều hơn là bởi các trường đào tạo tại địa phương. Thời gian thực tập khác nhau tùy vùng, nhưng thường kéo dài 3-4 tháng. Ngoài ra, ứng cử viên còn phải trải qua các kì thi quốc gia và vùng, trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề.

Hội đồng kiểm tra dược Canada (tên tiếng Anh là Pharmacy Examining Board of Canada- PEBC, tương tự như NABP của Mỹ) chịu trách nhiệm tổ chức kì thi cấp chứng chỉ hành nghề của dược sĩ cấp quốc gia. Năm 2001, kì thi này gồm có 2 phần: phần I bao gồm câu hỏi nhiều lựa chọn (multiple-choice question) về kiến thức điều trị dựa theo ca lâm sàng, kéo dài 2 ngày. Phần II là kì thi kiểm tra kĩ năng lâm sàng có cấu trúc thiết kế theo mục đích, gồm có 16 trạm. Ứng cử viên phải hoàn thành thành công cả hai kì thi này để có thể tham dự kì thi hành nghề của địa phương.

Giống như ở Mỹ, chứng chỉ hành nghề của các dược sĩ ở Canada cũng không có giá trị toàn quốc. Thay vì thế, mỗi "Hội đồng cấp chứng chỉ hành nghề vùng" sẽ tổ chức kì thi cấp chứng chỉ hành nghề, nội dung là các quy định hành nghề của địa phương. Một dược sĩ có chứng chỉ hành nghề ở một vùng không tự động có thể hành nghề ở một vùng khác. Nhưng hiện nay đã có nhiều quy định để giúp dược sĩ có thể chuyển đổi hành nghề giữa các địa phương với ít rào cản hơn.

Hiện tại, chỉ có 2 trường dược Canada là trường British Columbia và trường Toronto, có chương trình chuyển đổi từ Bằng cử nhân dược lên PharmD. Ứng cử viên phải có bằng Cử nhân dược và là dược sĩ thực hành tại Canada. Tiêu chuẩn chấp nhất dựa trên điểm, kinh nghiệm, thư giới thiệu, phỏng vấn. Hàng năm có khoảng 6-9 sinh viên theo học và thường tỷ lệ chọi để được chấp nhận rất cao. Chương trình này kéo dài 2 năm, trong đó năm đầu là các khóa học nâng cao, còn năm 2 là các đợt thực tập. Mục đích của chương trình là nhằm đào tạo các dược sĩ có thể hoàn thành các vai trò trong thực hành dược lâm sàng nâng cao tại bệnh viện, chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm đáp ứng được thực hành chăm sóc dược.

Cơ hội nghề nghiệp
Dược sĩ có thể thực hành ở nhiều cơ sở khác nhau từ quầy thuốc đến các các cơ sở y tế. Sự phân bố không đồng đều giữa thành thị - nông thôn vẫn tồn tại.
Khoảng trên 75% các DS tốt nghiệp hành nghề ở quầy thuốc. Nhằm lôi kéo dược sĩ làm việc tại quầy thuốc, nhiều biện pháp hỗ trợ, phần thưởng được đưa ra, đặc biệt nếu DS chịu mở quầy thuốc ở vùng nông thôn. Lương khởi điểm khoảng 100.000USD/năm.

Trong thực hành quầy thuốc, DS thường làm việc cùng cộng sự, người quản lý hoặc chủ quầy thuốc. Quầy thuốc sử dụng công nghệ nhiều (như cơ sở dữ liệu, tra tương tác thuốc bằng máy, tra thông tin thuốc, dữ liệu về bảo hiểm...). Quầy thuốc cũng sử dụng nhiều kỹ thuật dược viên (pharmacy technician). Kỹ thuật dược viên sẽ làm các công việc đơn giản hơn để DS có thời gian tiến hành các nhiệm vụ tư vấn dược. Các nhà thuốc tư nhân độc lập đang giảm dần, thay vào đó là các chuỗi nhà thuốc tư nhân lớn đang phát triển nhanh chóng.

Ở nhiều bệnh viện, khoa dược áp dụng chương trình "kĩ thuật dược viên kiểm tra kĩ thuật dược viên" (tech check tech) để thực hiện các chức năng kĩ thuật như phân phối thuốc, để các dược sĩ có nhiều thời gian hơn đảm nhận các công việc về dược lâm sàng (theo dõi bệnh nhân, làm việc với cán bộ y tế khác). Hiện tại hệ thống y tế của Canada đang thay đổi xu hướng nhằm giảm dần số lượng bệnh nhân nhập viện (cũng như thời gian nằm viện) và tập trung nhiều hơn cho chăm sóc ban đầu, nên công việc của các dược sĩ ở bệnh viện cũng phần lớn là chăm sóc các bệnh nhân vốn ở tại nhà họ và chỉ tới bệnh viện để thực hiện một số các dịch vụ (như dịch vụ "bệnh viện một ngày" (day hospital), phòng khám ngoại trú).

Một xu hướng khác là số lượng các dược sĩ thực hành trong các nhóm chăm sóc sức khỏe giành cho gia đình (family health team) đang tăng lên. Tức đây là nhóm các bác sĩ gia đình hợp tác với nhau, và với dược sĩ, y tá để chăm sóc sức khỏe cho các gia đình đăng kí. Nhiều dược sĩ tham gia nhóm này hầu như không chịu trách nhiệm về phân phối thuốc mà giành thời gian để giáo dục, theo dõi bệnh nhân; tư vấn cho bác sĩ.

Ngoài ra, DS có thể thực hành trong các công ty dược, nghiên cứu, cơ quan của chính phủ và các trường.

Với số lượng bệnh nhân bị bệnh mạn tính đang gia tăng đáng kể, có nhiều chính sách nhằm mở rộng quyền và trách nhiệm của dược sĩ, để làm giảm gánh nặng công việc của bác sĩ và bệnh viện. Theo luật, DS không có quyền kê đơn nhưng một số vùng đã cho phép dược sĩ kê đơn dựa trên protocol đã được thỏa thuận với bác sĩ (ví dụ điều chỉnh liều thuốc huyết áp dựa trên các thông số huyết áp). Hay quy định cho phép dược sĩ gia hạn đơn của bác sĩ đối với một số bệnh mãn tính (Tức sau khi dùng hết thuốc, bệnh nhân có thể mang đơn trở lại gặp dược sĩ để quyết định gia hạn đơn thay vì trở lại gặp bác sĩ). Ở vùng Quebec còn cho phép dược sĩ có quyền thay thế chế phẩm dược tương đương mà không cần sự chấp thuận của bác sĩ. Và dược sĩ được chi trả bởi hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên số lượng các ý kiến chuyên môn (pharmaceutical opinion) của mình về dược điều trị của bệnh nhân, bất kể dược sĩ có bán thuốc cho bệnh nhân hay không. Ở Ontario thì dược sĩ được chi trả bởi bảo hiểm theo số dịch vụ Medcheck đã thực hiện. Tức bệnh nhân dùng từ 3 thuốc trở lên có thể hẹn một cuộc hẹn hàng năm kéo dài 30 phút với dược sĩ để được dược sĩ phỏng vấn về tình trạng sức khỏe, tư vấn sử dụng thuốc.

Những thách thức hiện tại và phương hướng trong tương lai về đào tạo dược Canada
Đổi mới của giáo dục và thực hành dược gồm: tăng vai trò của dược sĩ, tăng hợp tác giữa các cán bộ y tế nhằm chăm sóc y tế lấy bệnh nhân làm trọng tâm, và vai trò của kĩ thuật dược viên được tăng cường.
Hiện tại giáo dục dược tại Canada có những vấn đề sau: (1) mở rộng chương trình cử nhân dược, (2) xây dựng các chương trình đào tạo nghề nghiệp liên tục.

Mở rộng chương trình cử nhân dược
Với nhu cầu mở rộng và tăng cường vai trò và trách nhiệm của dược sĩ trong điều trị bệnh cho bệnh nhân, nhiều người quan ngại là chương trình cử nhân dược hiện tại của Canada không đáp ứng được yêu cầu và đề nghị nên thay thế bằng chương trình PharmD. Nhưng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về vấn đề này: làm thế nào thay đổi chương trình đào tạo để đáp ứng những kĩ năng cho dược sĩ và liệu chương trình "doctor of pharmacy" (PharmD) có nên là bằng cấp bắt buộc để thực hành dược.

Đào tạo nghề nghiệp liên tục
Quy định về đào tạo nghề nghiệp liên tục (continuing professional development - CPD) không thống nhất trong cả nước. Tuy nhiên có một điểm chung là tất các các dược sĩ phải hoàn thành một số giờ quy định về CPD để có thể tiếp tục đăng kí hành nghề cho năm tiếp theo vì dược sĩ đòi hỏi phải duy trì năng lực của mình suốt đời và bằng cử nhân dược hay PharmD chỉ là một chứng nhận bước đầu.
Không chỉ có trường dược mới được tổ chức các khóa học CPD, tuy nhiên các trường ngày càng tham gia thiết kế nhiều khóa học CPD. Đó có thể là những khóa học trực tiếp hay từ xa, được tổ chức độc lập hay phối hợp với trường khác hay tổ chức khác.

Tài liệu tham khảo: Zubin Austin et al. Education of Pharmacists in Canada. American Journal of Pharmaceutical Education 2008; 72 (6) Article 128.

 


Đào tạo dược tại Vương quốc Anh

Tác giả: DS. Trịnh Thu Hà, BV Portsmouth, Anh 
Cảm ơn TS.DS. Nguyễn Thị Liên Hương, ĐH Dược HN và Ths.DS. Nguyễn Như Hồ, ĐH Y Dược Tp. HCM đã đặt câu hỏi, góp ý.

Mỗi năm hơn 2500 dược sĩ được cấp phép hành nghề tại Vương quốc Anh (UK). Phần lớn dược sĩ ở Anh (trên 70%) làm việc trong các nhà thuốc cộng đồng, khoảng 25% làm trong các bệnh viện và một số lượng nhỏ làm việc trong các trường đại học, trong ngành công nghiệp dược phẩm hoặc trong các cơ quan quản lý dược. General Pharmaceutical Council hay GPhC là cơ quan quản lý dược sĩ, kĩ thuật viên dược, các nhà thuốc và các chương trình đào tạo dược ở Anh. Ở Anh, dược sĩ là một nghề được pháp luật bảo vệ, chỉ những người có tên trong danh sách được phép hành nghề của GPhC mới được phép gọi mình là dược sĩ. Điều này cũng đúng với kĩ thuật viên dược (pharmacy technicians). Đây là những người được đào tạo ít nhất 2 năm trong các cơ sở dược (phần lớn là hiệu thuốc cộng đồng và bệnh viện) dưới sự giám sát và giúp đỡ của dược sĩ theo các tiêu chuẩn của GPhC.   

Để được chính thức hành nghề dược sĩ, sinh viên phải tốt nghiệp một trong 29 trường dược được công nhận ở vương quốc Anh với tấm bằng MPharm (Master of Pharmacy). Chương trình MPharm thường kéo dài trong 4 năm và bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của ngành dược. Mỗi trường dược có một chương trình đào tạo khác nhau. Một vài trường hiện tại cũng bắt đầu cung cấp chương trình đào tạo 5 năm với 2 kì thực tập 6 tháng ở những năm cuối. Sinh viên tốt nghiệp các khóa học 5 năm này không cần thực tập 1 năm sau khi tốt nghiệp vì chương trình đã bao gồm thời gian thực tập bắt buộc. Thời gian học trên lớp (lectures and seminars)  thường chiếm khoảng 1/3 thời gian đào tạo, thay đổi tùy theo quá trình học (thường nhiều ở những năm đầu và ít dần ở năm cuối) và khác nhau giữa các trường. Việc tự học và tự nghiên cứu cũng được đánh giá cao trong công tác đào tạo dược, thường chiếm ít nhất 50% tổng thời gian đào tạo. Các trường dược ở Anh không phân ngành, sinh viên cùng trường sẽ theo học cùng một chương trình với một số môn học bắt buộc và một số môn tự chọn. Điều này nhằm đảm bảo sinh viên tốt nghiệp có mặt bằng chung tương đương dù làm ở lĩnh vực nào trong ngành dược. 

Tuy chương trình đào tạo khác nhau, các giáo trình đào tạo đều bao gồm 4 mảng chính của dược: hóa dược (medicinal chemistry), dược lý (pharmacology), dược bào chế (drug delivery/pharmaceutics/ microbiology) and thực hành dược (pharmacy practice). Vào những năm cuối, sinh viên cần tham gia một đồ án nghiên cứu khoa học và các đề tài thường được phân loại theo 4 mảng chính này. Chương trình học cũng bao gồm các đợt thực tập trong các bệnh viện, nhà thuốc cộng đồng và các công ty dược phẩm. Sinh viên có cơ hội thực tập ngay từ năm 1. Thời gian thực tập tùy thuộc vào sự sắp xếp của các trường, có thể kéo dài từ 1-2 ngày đến vài tuần. Sinh viên một số trường cũng có cơ hội trao đổi ở các trường dược trong khu vực EU, Mĩ, Úc hay châu Á hay thực tập ở các công ty dược ở nước ngoài. Sự khác biệt về chương trình giảng dạy và thực tập tạo nên sự đa dạng cho việc đào tạo dược ở Anh và cũng mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn.

Sau khi tốt nghiệp, hầu hết sinh viên phải hoàn thành chương trình thực tập 1 năm trong các bệnh viện, nhà thuốc hoặc các công ty thuốc lớn với danh nghĩa dược sĩ thực tập (pre-registration pharmacist). Sinh viên tốt nghiệp các khóa học 5 năm như đã đề cập là trường hợp ngoại lệ. Chương trình thực tập này được quản lí một cách chặt chẽ bởi GPhC. Kết thúc ít nhất 52 tuần thực tập là kì thi lấy chứng chỉ hành nghề (registration exam) và nếu vượt qua và hoàn thành các thủ tục đăng kí, tên họ sẽ có trong danh sách những dược sĩ được hành nghề ở Anh. Với một số nhỏ theo học chương trình dược 5 năm, sinh viên sẽ tham dự kì thi lấy chứng chỉ hành nghề vào năm cuối.

Dược sĩ được đào tạo trong khu vực châu Âu (EEA) có thể hành nghề ở UK nếu bằng cấp và trình độ tiếng Anh được xét duyệt và chấp nhận bởi GPhC. Dược sĩ được đào tạo ngoài khu vực EEA, tuy nhiên, nếu muốn hành nghề ở UK cần phải hoàn thành chương trình đào tạo cho dược sĩ nước ngoài (Overseas pharmacists’ assessment program), ít nhất 52 tuần thực tập và vượt qua kì thì lấy chứng chỉ hành nghề, tất cả đều được quản lí bởi GPhC. Mỗi trường hợp sẽ được GPhC xét duyệt riêng dựa trên bằng cấp và kinh nghiệm làm việc.       

Như đã đề cập, một dược sĩ chỉ được phép hành nghề khi có tên trong danh sách dược sĩ của GPhC với số chứng chỉ hành nghề riêng (registration number). Danh sách này có thể được truy cập online trên trang web của GPhC. Danh sách này được cập nhật hàng năm để đảm bảo chỉ có những dược sĩ vẫn đang hành nghề là có tên trong danh sách. Hai tiêu chuẩn quan trọng được nhắc đến nhiều nhất khi hành nghề dược sĩ FtP (fitness to practice) và CPD (continuing professional development)

Mục đích của FtP là để đảm bảo chỉ những dược sĩ phù hợp nhất được hành nghề. FtP bao gồm nhiều nội dung trong đó quan trọng nhất là 7 tiêu chuẩn (7 principles of the Standard Codes of Conduct) đề cập đến những phẩm chất đạo đức, hành vi ứng xử, thái độ làm việc và cả khả năng chuyên môn của dược sĩ khi hành nghề. Vi phạm các tiêu chuẩn này, dược sĩ sẽ phải trả lời thẩm vấn trước hội đồng FtP và nếu nặng có thể bị tước bằng. CPD là một tiêu chuẩn khác để duy trì giấy phép hành nghề. Mục đích của CPD là để đảm bảo các dược sĩ luôn cập nhật thông tin, không ngừng học hỏi và tăng cường trình độ chuyên môn. Nội dung của CPD không bị giới hạn và tùy thuộc vào công việc của mỗi dược sĩ. Từ việc học thêm về liều lượng và cách sử dụng một loại thuốc mới được cấp phép đến làm cách nào để tư vấn, thuyết phục một bệnh nhân tuân thủ điều trị, tất cả đều có thể được ghi lại như một CPD với mục đích nâng cao chất lượng công việc của dược sĩ. Mỗi dược sĩ phải hoàn thành ít nhất 9 CPDs mỗi năm và lưu online trên trang web của GPhC.

Thông tin về đào tạo dược, dược sĩ và kĩ thuật viên dược có thế được tham khảo thêm ở trang web của GPhC  http://www.pharmacyregulation.org/. Unistats là một trang web hữu ích để so sánh khóa học dược giữa nhiều trường ở Anh http://unistats.direct.gov.uk/. Thông tin cụ thể về từng chương trình đào tạo có thể tìm thêm trên website các trường đại học.