Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

Đào tạo dược sỹ tại Mỹ

PGS.TS.BS. Nguyễn Văn Hùng (Trưởng Khoa Dược, ĐH Y Dược Hải Phòng)

Mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Với sự phát triểnnhanh chóng của công ngh dược, nhiều thuốc và dạng thuốc mới ra đời, chức năng “sản xuất thuốc” của dược sỹ giảm dần, tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc hợp lý tăng lên. Một nghiên cứu của Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ do Edward C.Elliot thực hiện trong các năm 1946-1949 đã khuyến nghị cần phải đào tạo dược sỹ trong 6 năm, và người tốt nghiệp sẽ được gọi là doctor of pharmacy (viết tắt là PharmD).

Tuy nhiên, còn nhiều tranh cãi xung quanh khuyến nghị đào tạo dược sỹ hệ PharmD, nhất là tên gọi Doctor of Pharmacy, dễ nhầm lẫn với từ Bác sỹ (dược). Một số trường Dược đi tiên phong đã thực hiện khuyến nghị, đào tạo PharmD từ những năm 1950. Năm 1954, Hiệp hội các trường đại học dược Hoa Kỳ(American Association of College of Pharmacy, AACP) đã thoả hiệp thực hiện chương trình 5 năm cho đào tạo dược sỹ, thay vì chỉ 2 đến 3 năm như trước đó, người tốt nghiệp được cấp bằng Cử nhân dược.
Năm 1973, AACP tiến hành một nghiên cứu về chương trình đào tạo dược sỹ, nhiều khuyến nghị tăng cường các môn học lâm sàng vào chương trình đào tạo dược sỹ. Năm 1978, trong cuộc bỏ phiếu của AACP, chỉ có 25% các trường đồng ý với chương trình đào tạo PharmD, (tạm dịch là dược sỹ lâm sàng), đa số (75%) vẫn ủng hộ giữ nguyên chương trình đào tạo dược sỹ 5 năm. Đến cuộc họp AACP năm 1985 đã có 43% số trường ủng hộ chuyển đổi hoàn toàn sang đào tạo PharmD, 57% yêu cầu giữ nguyên hệ đào tạo cử nhân dược.

Sự chuyển đổi chương trình từ Cử nhân dược sang Dược sỹ lâm sàng (PharmD) chính thức được bắt đầu kể từ khi Hội đồng kiểm định về đào tạo Dược Hoa Kỳ (ACPE) ban hành “Tiêu chuẩn kiểm định và hướng dẫn chương trình chuyên môn dược dẫn tới việc công nhận trình độ Dược sỹ lâm sàng” vào tháng 6 năm 1997. Kể từ thời điểm này, toàn bộ các Trường đại học dược Hoa Kỳ bắt buộc phải chuyển đổi sang hệ đào tạo PharmD (hệ 6 năm) nếu muốn được cấp chứng chỉ hành nghề dược.

Mục tiêu đào tạo dược sỹ hệ PharmD
Thay đổi chính về mục tiêu và chương trình đào tạo do ACPE đề ra là hướng tới người bệnh, và bắt buộc với tất cả các Trường đại học dược từ 1997. Mục tiêu đào tạo như sau:
-                      Cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh, hợp tác với bệnh nhân, người kê đơn, và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc sức khoẻ đa ngành, với các nguyên lý trị liệu chuẩn mực, các thông tin dựa trên bằng chứng, chú ý đến các khía cạnh nghề nghiệp khác, như kinh tế, văn hoá, xã hội, đạo đức, pháp lý; sự phát triển nhanh chóng của khoa học y sinh, khoa học kỹ thuật, những lĩnh vực có thể tác động tới kết quả điều trị.
-                      Quản lý và sử dụng các nguồn lực của hệ thống y tế, phối hợp với bệnh nhân, thầy thuốc và những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác để tăng cường sức khoẻ, để cung cấp, đánh giá và điều phối quá trình phân phối thuốc một cách an toàn, chính xác, đúng hạn và cải thiện kết quả điều trị và sử dụng thuốc.
-                      Thúc đẩy cải thiện sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật, hợp tác với bệnh nhân, cộng đồng, các quần thể dân cư có nguy cơ cao và những thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khoẻ đa ngành. 
Để đạt được các mục tiêu và các chuẩn đầu ra do ACPE ban hành, cần các mục tiêu chi tiết để giúp phát triển kỹ năng và quá trình tự học tập suốt đời của dược sỹ, do các cơ sở đào tạo tự xây dựng.

Chương trình đào tạo tập trung vào chăm sóc người bệnh
Chương trình đào tạo nhằm giáo dục các kỹ năng chăm sóc bệnh nhân, bên cạnh kiến thức đầy đủ về thuốc, chương trình phải dành nhiều thời gian cho các liệu pháp điều trị, giao tiếp và đánh giá người bệnh.
Từ năm 2000 trở lại đây, toàn bộ các Trường đại học dược của Hoa Kỳ đã chuyển đổi sang đào tạo PharmD không còn đào tạo Cử nhân dược. Một số chương trình ngắn hạn nhằm chuyển đổi cho những ai có bằng cử nhân dược để lấy bằng PharmD cũng được thực hiện.

Thời gian đào tạo Dược sỹ lâm sàng là 6 năm. Tuy nhiên, học sinh hoàn thành chương trình học đại học đại cương, thường là 2 năm, tại các trường đại học, tương ứng với khoảng 60-90 đơn vị học trình. Yêu cầu 2 năm này gồm các môn khoa học cơ bản, toán, lý, hoá, sinh, khoa học xã hội và nhân văn.
Sinh viên đủ tiêu chuẩn (đã qua 2 năm đại học) có thể nộp hồ sơ thi tuyển vào học đại học dược, thường là 4 năm (8 học kỳ). Một số Trường đào tạo 3 năm, với chương trình 3 kỳ mỗi năm (học cả hè).

Chuẩn thứ 13 do ACPE qui định, các nội dung chủ yếu về Kiến thức, Thái độ và Kỹ năng cần có của Dược sỹ lâm sàng gồm:
Khoa học y sinh: Giải phẫu và sinh lý; Bệnh học và sinh lý bệnh học; Vi sinh vật; miễn dịch học; Hoá sinh và kỹ thuật hoá sinh; Sinh học phân tử và di truyền; Thống kê y sinh.
Khoa học về dược: Hoá dược; Dược lý; Dược liệu; Hoá sinh lâm sàng; Dược phẩm và sinh dược học; Dược động học; Dược di truyền; Công nghệ bào chế
Khoa học xã hội, hành vi và quản lý: Hệ thống chăm sóc sức khoẻ; Kinh tế dược; Quản lý thực hành dược; Dịch tễ dược; Luật dược; Lịch sử ngành dược; Đạo đức; Giao tiếp; Khoa học xã hội và hành vi.
Khoa học lâm sàng: Thực hành dược và dịch vụ chăm sóc do dược sỹ thực hiện; Hệ thống phân phối và bán thuốc; Điều trị học; Chăm sóc dược  giành cho những nhóm dân cư đặc biệt; Thông tin thuốc; An toàn thuốc; Đánh giá thông tin thuốc và thiết kế nghiên cứu; Thực hành đánh giá người bệnh. 

Yêu cầu đầu vào với sinh viên dược:
Đã qua ít nhất 2 năm học đại học tại bất kỳ trường đại học được kiểm định nào, bao gồm các nội dung chính: Hóa học cơ bản, sinh học cơ bản, thống kê trong y sinh học, hùng biện, hóa hữu cơ, giải phẫu người, sinh lý người, vi sinh vật và một số môn khoa học tự chọn.

Sau khi hoàn thành 2 năm học với các môn nêu trên, sinh viên có thể nộp hồ sơ xin thi vào Đại học Dược. Tỷ lệ cạnh tranh để vào trường dược loại tốt nhìn chung rất cao. Ví dụ tại Trường Dược thuộc đại học UCSF và Trường Dược đại học Iowa, 80-90% sinh viên dự thi đầu vào đã tốt nghiệp đại học (thường là sau 4 năm học, thay vì 2 năm như yêu cầu).

Chương trình giáo dục của một Trường đại học Dược
Dưới đây là chương trình của Trường đại học Dược, Đại học Iowa, năm 2009 (học 4 năm).
Học kỳ 1
Số giờ
Thực hành dược tại labo I
2
Hoá sinh cho dược
4
Dược phẩm I: dung dịch
4
Giới thiệu về bệnh học người
4
Nguyên lý cơ bản trong đánh giá nghiên cứu lâm sàng
1
Tổng
15
Học kỳ 2

Thực hành dược tại labo II
2
MNPC I: kỹ thuật sinh học và hoá trị liệu
3
Dược phẩm II: thuốc dạng rắn và mềm
4
Dược lý học I
3
Các khía cạnh xã hội của chăm sóc dược
Giới thiệu về thực hành dược
2
1
Tổng
15
1 đơn vị  học trình tương đương 15 tiết, mỗi tuần học 1 ĐVHT, học kỳ có 15 tuần

Học kỳ 3

Thực hành dược tại labo III 
2
MNPC II: Dược động học
3
Dược lực học/sinh dược học
3
Giới thiệu về điều trị học
2
Điều trị học: sức khoẻ nam và nữ
2
Dược lý học II
4
Giới thiệu thực hành dược cộng đồng**
3
Tổng
19
Học kỳ 4

Thực hành dược tại labo IV
2
MNPC III: Hoá thần kinh y học
3
Dược lực học lâm sàng
3
Điều trị học: hệ hô hấp
2
Điều trị học: bệnh tim mạch
2
Kỹ năng thực hành lâm sàng I
1
Giới thiệu về thực hành dược  bệnh viện**
Môn lựa chọn
2
3
Tổng
18
Học kỳ 5

Thực hành dược tại labo V
2
Điều trị học: FEN, GI, thận
2
Điều trị học: miễn dịch, huyết học
2
Kỹ năng thực hành lâm sàng II
2
Kinh tế dược và bảo hiểm y tế
3
Đánh giá thông tin về thuốc
2
Giới thiệu thực hành dược lâm sàng *
1
Môn lựa chọn
4
Tổng
18
Học kỳ 6

Thực hành dược tại labo VI
2
Điều trị học: thần kinh, tâm thần
2
Điều trị học: bệnh nhiễm khuẩn
2
Kỹ năng thực hành lâm sàng III
2
Luật và đạo đức dược
2
Quản lý và tiếp thị dược
2
Nghề nghiệp của sinh viên dược***
1
Môn lựa chọn
5
Tổng
18
Năm thứ 4 (kỳ 7 và 8): Thực hành trải nghiệm
Kỳ 1 (hè): 12 tuần. Kỳ 2: 18 tuần. Kỳ 3: 18 tuần
Sinh viên năm thứ 4 đi thực hành tại bệnh viện, phòng khám, nhà thuốc ở các cơ sở tại Hoa Kỳ, hoặc các nước khác trên thế giới.
Sau khi tốt nghiệp, dược sỹ cũng có thể tiếp tục theo học nội trú đa khoa 1 năm hoặc chuyên khoa 2 năm.
*Sinh viên phải hoàn thành 1 đợt thực tập trong năm thứ 1 và 1 đợt thực tập trong năm thứ 3.
**Sinh viên sẽ hoàn thành trong mùa hè trước đó, kỳ nghỉ mùa xuân và/hoặc mùa hè sau năm thứ 2
***Sinh viên hoàn thành 32 đơn vị học trình có giám sát và các hoạt động học tập về quản lý nghề nghiệp trong các năm thứ 1 đến thứ 3.
Môn lựa chọn có thể chỉ thực hiện trong 4 năm học chuyên nghiệp, kể cả các học kỳ mùa hè. Tổng số phải đạt 12 đơn vị học trình.

Một số thách thức chính
  • Theo quan niệm truyền thống, bác sĩ thường coi bệnh nhân là “của mình”, và thực tế, bác sĩ mới hiểu đầy đủ về bệnh tật, sức khoẻ, thói quen và điều trị một cách phù hợp cho bệnh nhân. Do đó, khi thay đổi mục tiêu đào tạo dược sĩ tập trung vào bệnh nhân thay vì thuốc, dễ làm cho bác sĩ có cảm giác có người “xen” vào trong quá trình điều trị, tuỳ thuộc cá nhân và hoàn cảnh của từng nơi. Vì vậy, hợp tác giữa bác sĩ và dược sỹ vẫn còn những bất cập và các rào cản về nhận thức.
  • Niềm tin của bệnh nhân thường đặt nơi bác sĩ. Do vậy, nhiều trường hợp bệnh nhân đã được dược sỹ tư vấn về cách dùng một loại thuốc nào đó, nhưng khi cần, bệnh nhân lại hỏi bác sỹ. Đây là một quá trình thay đổi quan niệm, nhận thức và đòi hỏi năng lực của dược sỹ phải được nâng lên liên tục để đáp ứng nhu cầu.
  • Để đáp ứng nhu cầu làm việc với người bệnh, chăm sóc bệnh nhân về sử dụng thuốc, đòi hỏi dược sỹ phải được đào tạo nhiều hơn về lâm sàng, kỹ năng giao tiếp.
  • Việc đào tạo dược sỹ lâm sàng cho các bệnh viện có những đòi hỏi về kiến thức và kỹ năng khác với dược sỹ cộng đồng.  Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng lâm sàng của dược sỹ cộng đồng không sâu bằng dược sĩ bệnh viện.
  • Trong một số trường hợp, ranh giới, trách nhiệm, vai trò giữa dược sỹ và bác sỹ trong việc điều trị bệnh nhân cần được làm rõ, vì rất dễ dẫn đến những xung đột mang tính quan điểm hoặc xung đột lợi ích.
  • Theo qui định bảo vệ thông tin và sự riêng tư, dược sỹ cũng như những cán bộ y tế khác, bị hạn chế tiếp cận hồ sơ bệnh án vốn được quản lý qua mạng, hạn chế khả năng tham gia của dược sỹ trong việc tư vấn dùng thuốc cho người bệnh tại cộng đồng.
  • Chi trả cho bác sỹ mỗi lần đến khám bệnh là một việc thường qui được cả người bệnh và công ty bảo hiểm thực hiện từ lâu. Khi có sự tham gia của dược sỹ trong một số chương trình y tế tại nhà, việc chi trả cho dược sỹ trở nên phức tạp hơn, vì chưa có qui định nào như vậy. Hơn nữa, gánh nặng chăm sóc y tế lên ngân sách quốc gia và gia đình đang ngày càng lớn, khiến xu hướng giảm chi phí y tế, chứ không ủng hộ việc tăng chi phí.
·        Tại bệnh viện, dược sỹ đôi khi cũng rơi vào thế bị động, vì một bệnh nhân đã được khám, chẩn đoán, kê đơn bởi bác sỹ. Khi dược sỹ tiếp xúc bệnh nhân để phỏng vấn, trao đổi, bệnh nhân có thể không cảm thấy thoải mái vì nhiều người cùng hỏi một vấn đề.
Tuy vậy, dược sỹ với bằng PharmD đồng thời đã được học thêm nội trú từ 1 đến 2 năm rất được ưa chuộng tại các bệnh viện. Số dược sỹ làm việc tại các bệnh viện chiếm tỷ lệ khá cao, ví dụ, bệnh viện đại học Alabama với 908 giường bệnh, 690 bác sỹ và 116 dược sỹ (2009).

Tài liệu tham khảo
1.                  Accreditation council for pharmacy education (ACPE): Accreditation standards and guidelines for the professional program in pharmacy leading to the doctor of pharmacy degree. Chicago. Illinois 2006, and Guidelines Version 02, March 2011.                                                      
2.                  Barry L. Carter, PharmD;  George R. Bergus, MD; Jeffrey D. Dawson, ScD; Karen B. Farris, PhD;  William R. Doucette, PhD; Elizabeth A. Chrischilles, PhD; Arthur J. Hartz, MD, PhD2: A Cluster Randomized Trial to Evaluate Physician/Pharmacist Collaboration to Improve Blood Pressure Control. The Journal of clinical hypertension. VOL. 10  NO. 3  March 2008.
3.                  The University of Iowa College of Pharmacy 11/20/2009: Pharm.D. CURRICULUM SUMMARY. www.pharmacy.uiowa.edu
4.                  American Pharmacists Association: Pharmacy Today. December 2010. www.pharmacytoday.org

5.                  Mickey C.Smith, David A.Knapp 1992: Pharmaceutical education. Pharmacy, Drugs and Medical Care. 177-200.