Phương
pháp học tích cực áp dụng trong đào tạo Dược
DS.
Võ Thị Hà, Đại học Y Dược Huế
Học tích cực (active learning) là một phần
quan trọng của triết lý giáo dục lấy người học làm trọng tâm. Bằng cách giúp
cho sinh viên tham gia sâu vào quá trình học, sinh viên sẽ có khả năng tốt hơn
áp dụng các kiến thức đã học. Khi thực hành dược chuyển từ nhấn mạnh vào sản phẩm,
sang tập trung vào bệnh nhân, thì tiêu chuẩn năng lực của người dược sĩ cũng
thay đổi. Những năng lực nghề nghiệp mới được yêu cầu gồm: tư duy phản biện,
giao tiếp, khả năng đưa ra quyết định, và khả năng tự học. Và nhiều bằng chứng
đã cho thấy học tích cực giúp sinh viên đạt được các năng lực nghề nghiệp trên
tốt hơn phương pháp học thụ động truyền thống (1).
Một khảo sát của các trường dược ở Mỹ (2) cho
thấy 87% những người khảo sát (giảng viên) sử dụng các kĩ thuật dạy tích cực
trong lớp học. Những giảng viên trẻ, ở vị trí thấp hơn và thuộc các khoa/bộ môn
về thực hành, lâm sàng, xã hội, hành vi- hành chính có xu hướng sử dụng phương
pháp dạy tích cực nhiều hơn. Các chiến lược học tích cực tại các trường dược Mỹ
được tóm tắt trong Bảng 1.
Bảng
1. Các chiến lược học tích cực tại các trường dược Mỹ
Chiến lược
|
Miêu tả ngắn
|
Hệ thống trả lời từ người học (audience response
system/clickers)
|
Các sinh viên dùng các thiết bị điều khiển từ xa để trả
lời nặc danh với các câu hỏi nhiều lựa chọn của giảng viên ; còn thể kết
hợp trong thuyết trình truyền thống.
|
Học dựa vào thảo luận (discussion-based learning)
|
Giữa những người học giao tiếp, trao đổi với
nhau ; có thể kết hợp với dùng các chiến lược khác như sử dụng tình huống
lâm sàng.
|
Học tương tác lặp lại (interactive-spaced education)
|
Dạy nội dung và kiểm tra, sau đó lặp lại quá trình này
sau các khoảng thời gian dài
|
Học tương tác dựa vào trang web (interactive Web-based
learning)
|
Dùng các phương thức dựa trên trang web để cung cấp nội
dung và đánh giá khả năng hiểu của sinh viên dưới hình thức tương tác
|
Đóng tình huống bệnh nhân (Patient simulation)
|
Dùng một người/thiết bị đóng vai bệnh nhân trong một
môi trường thực tập để dạy cho sinh
viên cách phản ứng với các tình huống khác nhau.
|
Học dựa trên quá trình (process-oriented guided inquiry
learning)
|
Dùng các bài tập đặc biệt thiết kế để các nhóm sinh
viên trải qua các bước : khám phá dữ liệu, xây dựng khái niệm dựa trên dữ
liệu, và áp dụng các khái niệm.
|
Học dựa trên vấn đề hay tình huống (problem-based
leaning, or case-based learning)
|
Dùng các tình huống hay vấn đề để các nhóm sinh viên tự
giải quyết với sự hỗ trợ của giảng viên ;
|
Học dựa theo nhóm (team-based learning)
|
Dùng các nhóm nhỏ sinh viên để tạo thuận lợi cho việc
thảo luận, phân tích tình huống lâm sàng hoặc các khía cạnh nội dung khác
nhau ; cần chuẩn bị trước và nội dung được kết hợp xuyên suốt lớp học bởi
giảng viên hay chuyên gia.
|
Thực hành trong phòng thí nghiệm truyền thống
(traditional laboratory experience)
|
Dùng các phòng thí nghiệm truyền thống để cung cấp các
trải nghiệm/bài thực hành tự tiến hành bằng tay.
|
Trong bài báo “An Active-Learning Strategies
Primer for Achieving Ability-Based Educational Outcomes” (1), các tác giả đã đã
trình bày ngắn gọn bằng chứng về lợi ích của việc sử dụng các chiến lược học
tích cực trong đào tạo dược và đưa ra nhiều chiến lược để áp dụng học tích cực
vào chương trình dược trong lớp học cũng như trong thực hành nghề. Đặc biệt bài
báo cũng đưa ra các giải pháp để khắc phục những khó khăn và thách thức khi áp
dụng học tích cực.
Bảng
2. Các chiến lược học tích cực trong lớp học
Suy nghĩ – Ghép cặp-Chia sẽ (think-pair-share)
|
Các sinh viên được giao một bấn đề và đầu tiên giành
1-2 phút để suy nghĩ về vấn đề một mình (bước Suy nghĩ – Think). Kế đó, sinh
viên dành 3-5 phút thảo luận vấn đề đó với một sinh viên khác (bước Ghép cặp-Pair).
Cuối cùng giảng viên yêu cầu sinh viên của các cặp chia sẽ với toàn bộ lớp
(bước Chia sẽ-Share).
|
Viết ngắn (minute writes)
|
Sinh viên được giao một câu hỏi mở cụ thể liên quan đến
một khái niệm của môn học và được yêu cầu viết câu trả lời trong 1-2 phút.
|
Điểm còn khó hiểu (muddiest point)
|
Giống nhữ bài tập Viết ngắn ở trên, nhưng yêu cầu sinh
viên viết ra điểm còn khó hiểu nhất của buổi học. Hình thức này thường tiến
hành cuối buổi học. Giảng viên thu thập câu trả lời và làm sáng tỏ trong buổi
học tới hoặc thông qua thảo luận online hay email.
|
Trao đổi ghi chép (notes exchange)
|
Bài giảng (lecture) dừng 3-5 phút, đặc biệt sau khi giảng
viên giới thiệu một khái niệm quan trọng, và sinh viên được yêu cầu trao đổi
và so sánh ghi chép của nhau.
|
Đặt câu hỏi kiểu Socrat
|
Thay vì cung cấp cho sinh viên câu trả lời, giảng viên
hỏi sinh viên để sinh tiên tự khám phá ra câu trả lời. Ví dụ các câu hỏi kiểu
Socrat : Các em nghĩ nguyên nhân của hiện tượng này là gì và vì
sao ? Hậu quả của giả thuyết đó là gì ? Khái niệm này liên quan như
thế nào với kiến thức các em đã học trước đây ? Điểm mạnh và điểm yếu của
bằng chứng ủng hộ giả thuyết đó là gì ?
|
Tranh luận (debate)
|
Giảng viên chọn một chủ đề còn tranh cãi vốn có những
quan điểm ủng hộ và chống đối. Sinh viên được chia thành nhóm tranh luận với
nhau.
|
Đóng kịch (role play)
|
Sinh viên được giao một vai để đóng kịch trong một tình
huống cho sẵn. Ví dụ : nếu mục tiêu là cải thiện khả năng giao tiếp với
bệnh nhân, giảng viên sẽ chia sinh viên thành nhóm 3 người : một người
đóng vai là bệnh nhân, một người là dược sĩ, một người đóng vài trò là người
quan sát, đánh giá. Sau đó, mọi người đổi vai cho nhau sau cho mỗi sinh viên
đều lần lượt có cơ hội đóng vai bệnh nhân, dược sĩ và người quan sát.
|
Báo cáo bởi sinh viên (student presentation)
|
Sinh viên, làm cá nhân hoặc theo nhóm, được giao một chủ
đề và phải nghiên cứu, chuẩn bị một báo cáo trước lớp
|
Bổ sung online (online supplementation)
|
Học online có thể dưới dạng : bài đọc dựa trên
trang web, bài giảng, các bài tự đánh giá hoặc các forum thảo luận.
|
Bảng 3.
Các đề nghị để làm tăng học tích cực ở cơ sở thực hành
Lôi cuốn sinh viên dè dặt
|
·
Thảo luận các chủ
đề lựa chọn của sinh viên khi sinh viên phải giới thiệu hay trả lời.
·
Giao bài đọc
online hay các câu hỏi tự lượng giá trước khi thảo luận trực tiếp
·
Cung cấp các ví dụ
về các hoạt động của chương trình thực tập sẽ giúp sinh viên đạt điểm tốt
trong kì thi hay thực hành nghề nghiệp trong tương lai.
|
Bảo đảm là kinh nghiệm vẫn sống động
|
·
Vào cuối ngày hay
đợt thực tập, tiến hành cho sinh viên tự đánh giá, tổng kết để ít nhất tổng kết
các điểm chính học được
·
Cân nhắc dùng
tương tác tăng dần khi chương trình học cao dần
·
Miêu tả những
kinh nghiệm trong đó sinh viên đã áp dụng ý thuyết đã học vào thực tế.
·
Với thực hành ở
quầy thuốc, sinh viên nên tập trung vào việc đưa ra lời khuyên chủ động khi
bán các thuốc OTC hay các thuốc kê đơn (đặc biệt 200 thuốc phổ biến nhất) với
đánh giá của dược sĩ quầy thuốc.
|
Dùng các nguyên tắc thách thức tăng dần
|
·
Khuyến khích sinh
viên học từ các mức độ tăng dần : từ nhớ, đến hiểu, đến áp dụng….
·
Xác định các mục
tiêu cao trong thực tập
·
Khuyến khích sinh
viên tự quản lý, tự chịu trách nhiệm lấy việc học của mình
|
Tìm cách thách thức sinh viên hàng
ngày
|
·
Đưa ra câu hỏi
hay vấn đề cần học mỗi ngày và kiểm ra sinh viên cuối ngày
·
Khuyến khích các
cán bộ y tế thách thức sinh viên với các vấn đề cần giải quyết
·
Kết hợp so le
nhau : kết hợp một sinh viên ít kinh nghiệm với một sinh viên nhiều kinh
nghiệm hơn để hướng dẫn cho nhau.
|
Bảng 4. Bí quyết để khắc phục các khó khăn và thách thức khi
áp dụng chiến lược học tích cực tại cơ sở thực hành
Thúc đẩy hiệu quả làm việc nhóm
|
·
Giáo sinh viên
các hoạt động, bệnh nhân khác nhau
·
Lên kế hoạch cho
sinh viên gặp nhau cuối ngày để dạy cho nhau về những gì các sinh viên đã học
được
·
Sinh viên cần ghi
tóm tắt cuối mỗi tuần thực tập về những gì đã làm được trong tuần, cho bản
báo cáo cuối đợt thực tập.
·
Phối hợp cho sinh
viên gặp mặt với những người hướng dẫn tại bệnh viện hay giảng viên của khoa,
các sinh viên dược khác để thảo luận về một chủ đề hay ca lâm sàng
|
Tăng động lực học
|
·
Cần tìm hiểu mục
tiêu nghề nghiệp tương lai của mỗi sinh viên bằng cách cho sinh viên làm bài
khảo sát trước khi bắt đầu đợt thực tập.
·
Hỏi sinh viên điều
gì hữu ích nhất giúp cải thiện kĩ năng lâm sàng hoặc chuẩn bị cho công việc
tương lai
·
Giải thích lý do
đằng sau mỗi hoạt động thực tập
·
Cho phép sinh
viên trực tiếp thực hiện một số hoạt động sớm. Điều này cho phép sinh viên cảm
thấy có ích và được lắng nghe.
·
Yêu cầu sinh viên
luôn tự đánh giá về những gì làm được và chưa làm được trong đợt thực tập để
sinh viên có khả năng tự cải thiện.
·
Cung cấp những ví
dụ cho thấy những hoạt động của sinh viên rất hữu ích cho thực hành/kiến thức
và có khả năng ảnh hưởng lên chất lượng điều trị của bệnh nhân.
|
Tạo sự tự tin về dạy học tích cực cho
người hướng dẫn thực tập (preceptor)
|
·
Bố trí thời gian
cho khoa dược giảng dạy và người hướng dẫn thực tập gặp gỡ nhau, và chia sẽ
các kinh nghiệm tích cực về thực tập của sinh viên
·
Chia sẽ các bí
quyết giảng dạy khi thực tập
·
Sắp xếp cho khoa
dược giảng dạy và người hướng dẫn thực tập thăm quan, tìm hiểu thực hành chuẩn
của cơ sở thực hành 1-2 ngày
|
Thời gian hạn chế
|
·
Tạo cơ hội cho
sinh viên dạy cho sinh viên khác
·
Dùng các sinh
viên lớp trên hay bậc cao hơn hướng dẫn cho các sinh viên lớp thấp hơn. Như vậy,
giảng viên và người hướng dẫn thực tập
có thể nhường một số hoạt động cho nhóm sinh viên lớp cao này.
·
Dược sĩ bậc thấp
hơn (trung cấp) và các cán bộ y tế khác có thể tham gia các hoạt động giảng dạy.
|
Giữ cho đợt thực tập được tổ chức tốt
|
·
Bắt đầu đợt thực
tập, cung cấp cho sinh viên một khóa biểu về ngày, giờ thực tập, nhiệm vụ, những
đợt đánh giá giữa đợt và cuối đợt, các chủ đề thảo luận, báo cáo.
·
Dành thời gian cuối
ngày, để tóm tắt với sinh viên những gì làm được trong ngày và lên kế hoạch
ngày kế tiếp.
·
Cần đưa ra các phản
hồi thường quy. Dành 5-10 phút bắt đầu và cuối mỗi tuần để thảo luận những gì
đã làm được trong tuần và lên kế hoạch cho tuần kế tiếp.
|
Trong thực tế, giảng viên
không những cần lên kế hoạch sử dụng các kĩ thuật/chiến lược dạy tích cực khác
nhau cho mỗi tiết học riêng rẻ; mà cần lập kế hoạch phối hợp nhiều kĩ thuật/hoạt
động khác nhau qua nhiều tiết học để đạt một mục tiêu chung cho cả học phần.
Các giảng viên của Trường Rhode Island Mỹ đã thiết kế thành công một khóa học
tích cực về Dược điều trị trong Lão khoa (3). Khóa học bao gồm các chuỗi hoạt động:
+
Đánh giá trong lão khoa:
sinh viên được giới thiệu các công cụ đánh giá thường được sử dụng trong lão
khoa như thang đánh giá chức năng tâm thần, Braden Scale, thang đánh giá dùng
thuốc như Medication Appropriatness Index.
+
Các buổi thuyết trình ngắn:
về các kiến thức cơ bản trong lão khoa như các triệu chứng hay gặp ở người già.
+
Thỏa luận ca lâm sàng: có
5-20 ca lâm sàng và sinh viên bắt cặp với nhau và được giao giải quyết tình huống
của một ca lâm sàng, sau đó thảo luận với lớp.
+ Các vấn
đề còn tranh cãi trong lão khoa: sinh viên chia nhóm 3 người được giao đánh
giá và giới thiệu trước lớp một vấn đề còn tranh cãi trong lão khoa.
+ Xem
phim và đọc sách: để khơi dậy sự cảm thông, đồng cảm của sinh viên khi chăm
sóc người già, sinh viên được xem một bộ phim về người già và viết bài luận tập
trung vài vấn đề diễn ra trong phim. Hoặc sinh viên được giao đọc một quyển
sách về người già và viết bài luận.
+ Thực
hành tại cơ sở: sinh viên được đi thăm quan, thực hành tại một khoa lão
khoa để làm quen và thực hành các kĩ năng cơ bản như quan sát các hoạt động của
y tá, tham gia hội chẩn, phỏng vấn bệnh nhân, đánh giá dùng thuốc của bệnh
nhân. Mỗi sinh viên được giao phụ trách một bệnh nhân và trực tiếp tương tác với
bệnh nhân, lên kế hoạch và thực hiện chăm sóc dược cho bệnh nhân đó.
Tóm lại, các chiến lược học tích cực nên được
phối hợp vào trong các chương trình đào tạo dược hiện hành để giúp sinh viên đạt
được năng lực nghề nghiệp cao hơn. Khi phát hiện các rào cản trong việc sử dụng
các phương pháp học tích cực, cần tìm giải pháp để khắc phục nó. Sinh viên dược
cần được chuẩn bị tự tạo đồng lực và khả năng học suốt đời để đáp ứng những
thách thức nghề nghiệp trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
1.
Brenda L. Gleason, Michael J. Peeters, Beth H.
Resman-Targoff, Samantha Karr, Sarah McBane, Kristi Kelley, Tyan Thomas, and
Tina H. Denetclaw (2011). An Active-Learning Strategies Primer for Achieving
Ability-Based Educational Outcomes. American Journal of Pharmaceutical
Education: Volume 75, Issue 9, Article 186.
2.
David W. Stewart, Stacy D. Brown, Cheri W. Clavier, and
Jarrett Wyatt (2011). Active-Learning Processes Used in US Pharmacy Education.
American Journal of Pharmaceutical Education: Volume 75, Issue 4, Article 68.
3.
Erica L. Estus, Anne L. Hume, and Norma J. Owens (2010). An
Active-Learning Course Model to Teach Pharmacotherapy in Geriatrics. American
Journal of Pharmaceutical Education: Volume 74, Issue 3, Article 38.