Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Sơ lược các định hướng chuyên ngành trong đào tạo Dược sĩ đại học




Các sinh viên Dược Khoa thân mến, vừa chập chững bước vào khoa Dược, hoặc vẫn đang mơ hồ thắc mắc mình sẽ lựa chọn chuyên ngành gì và cần học tập như thế nào? Chúng tôi sẽ cho bạn một số gợi ý và định hướng nhỏ. Hy vọng các bạn sẽ tìm thấy hướng đi thích hợp cho mình.

Khi chúng tôi bắt đầu bước vào khoa Dược với ước mơ trở thành Dược sĩ, chúng tôi cũng giống như các bạn hiện nay, không có những định hướng rõ ràng cụ thể ngay từ đầu. Chúng tôi cũng đã học tập và làm việc theo định hướng đa khoa “biết tuốt” trong suốt quãng đời sinh viên của mình. Đó là điều cực kì hạn chế khi chúng tôi bắt đầu làm việc và công tác trong thực tế vì kiến thức bị hổng rất nhiều. Từ kinh nghiệm đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những lộ trình định hướng cho các bạn sinh viên năm 1, năm 2, măm 3 những gợi ý nhỏ này để các bạn có cái nhìn toàn diện nhất về bức tranh kiến thức mà mình cần thu thập trong suốt thời gian học. Đây là kinh nghiệm và ý kiến cá nhân của tác giả, gởi đến các bạn như một tham khảo trong quá trình học tập. Hy vọng các bạn sẽ có những định hướng tốt nhất có thể cho khả năng của mình.
Hiện nay các kiến thức các bạn được học trong hai khối kiến thức cơ bản và chuyên ngành tựu chung có thể định hướng vào 5 lĩnh vực chính như sau :

Mỗi chuyên ngành đòi hỏi sự chuẩn bị về kiến thức và kĩ năng khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của chuyên ngành đó. Ở đây không phải chúng tôi cổ súy khuyến khích cho việc học lệch, các sinh viên cần phải có kiến thức nền tảng vững vàng trong tất cả các môn học tại nhà trường. Tuy nhiên do sở thích, năng lực và nhu cầu, mỗi sinh viên sẽ phát triển năng lực theo một định hướng riêng của mình, từ đó sẽ bắt đầu tiếp cận chuyên sâu vào một số môn học cần thiết.


1. Chuyên ngành Dược lâm sàng

Như nội dung môn học ở trên, chuyên ngành này đòi hỏi các bạn phải có một nền tảng kiến thức về Sinh học và Hóa học thật vững vàng. Hai khối kiến thức chủ yếu quan trọng nhất của chuyên ngành này là Hóa Dược học và Dược lý học.
Hóa Dược học sẽ cung cấp cho các bạn những kiến thức về cấu trúc và tính chất vật lý, hóa học, dược học của các phân tử thuốc để từ đó có thể phân vào các nhóm thuốc trị liệu thích hợp.
Dược lý học cung cấp cho các bạn những kiến thức cơ sở về tính chất Dược lực và Dược động của phân tử thuốc, từ đó có thể sử dụng chúng trên lâm sàng cho phù hợp mục đích trị liệu.
Các nền tảng cần thiết cũng như mối tương quan giũa các môn học được trình bày trong sơ đồ sau :


2. Chuyên ngành Sản xuất và phát triển thuốc

Hai khối kiến thức cơ sở của chuyên ngành này là Hóa Dược học và Bào Chế học. Hóa Dược sẽ cung cấp cho các bạn kiến thức về tính chất lý hóa học và tính chát Dược học của thuốc, đồng thời cũng cung cấp cho các bạn những kĩ năng cần thiết để có thể thiết kế một phân tử thuốc mới có tác dụng dựa trên mối quan hệ cấu trúc và hoạt tính ( QSAR).
Kết hợp với những nguyên lý và kĩ thuật bào chế các dạng thuốc, tính chất sinh dược học của chúng để có thể cho ra đời những dạng bào chế phù hợp với yêu cầu sử dụng và có chất lượng tốt nhất.


3. Chuyên ngành Dược liệu & Dược cổ truyền

Với chuyên ngành này, Dược liệu và Hóa học các hợp chất thiên nhiên là vô cùng quan trọng. Thông thường, hai môn học này sẽ trộn lẫn vào nhau, đan xen hòa quyện thành học phần Dược liệu duy nhất. Đến với chuyên ngành này không những các bạn phải nắm vững tính chất lý hóa học của các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học, định tính và định lượng được chúng trong các Dược liệu mà còn phải nắm được cách phân loại và hệ thống các Dược liệu cũng như việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc của Việt Nam.


4. Chuyên ngành Kiểm tra chất lượng thuốc

Chuyên ngành này đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dược phẩm trước khi đưa nó đến tay bệnh nhân. Hai khối kiến thức quan trọng nhất của ngành là Kiểm nghiệm và Công nghiệp dược.
Kiểm nghiệm trang bị cho các bạn các kiến thức và kĩ năng cần thiết để đánh giá, kiểm định chất lượng của nguyên liệu, sản phẩm thuốc, một quy trình sản xuất thuốc… nhằm đảm bảo đúng theo các quy trình chuẩn mực đã xây dựng sẵn cũng như các chỉ tiêu phù hợp theo quy định của Pháp luật Việt Nam.
Công nghiệp dược giúp các bạn nắm được nguyên tắc cũng như thực tiễn các quy trình sản xuất thục tế của các dạng thuốc tại xí nghiệp. Những ưu nhược điểm và cách khắc phục của các phương pháp. Biết được các kiến thức này giúp cho các bạn có thể nắm được tổng quan toàn bộ quy trình cho ra đời một dạng bào chế thuốc, từ đó có thể tiến hành các quá trình kiểm tra, đánh giá ở bất kỳ khâu nào của dây chuyền.


5. Chuyên ngành Quản lý cung ứng thuốc

Chuyên ngành này nghiêng về Kinh tế và Pháp luật nhiều hơn tuy nhiên kiến thức cơ bản về Dược học là không thể thiếu.
Bạn không thể quản lý thuốc mà không nắm rõ dạng bào chế và tính chất vật lý, hóa học và dược học của nó. Các kiến thức này sẽ cho bạn một nền tảng để đánh giá cũng như đưa ra các phương pháp quản lý tối ưu cũng như các biện pháp để cải thiện năng suất và chất lượng của việc cung ứng Thuốc.
Để làm công việc đó một cách đúng đắn, Quản lý dược sẽ trang bị cho các bạn những nguyên tắc và kĩ năng cần thiết. Nhóm ngành này sẽ hướng dẫn các bạn các kiến thức về kinh tế, những nguyên lý và ứng dụng của nó trong ngành Dược cũng như những kiến thức về Pháp luật Việt Nam để các bạn luôn luôn làm việc đúng đắn với các quy định đảm bảo công việc đạt yêu cầu cao nhất.


Tóm lại với 5 định hướng chuyên ngành này, mỗi bạn sẽ phải tự chọn cho mình một hướng đi phù hợp với năng lực và sở thích của mình. Khi đã có định hướng rõ ràng hãy đi theo sợi chỉ đỏ xuyên suốt các môn học nền tảng và chuyên ngành để có những kiến thức và kĩ năng phù hợp yêu cầu. Tuy nhiên tránh việc học lệch, các bạn nên nhớ rằng mọi kiến thức đều có ích và chúng có mối liên quan hỗ trợ nâng đỡ lẫn nhau. 

Theo http://namud.vn

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

Phương pháp học tích cực áp dụng trong đào tạo Dược

Phương pháp học tích cực áp dụng trong đào tạo Dược
DS. Võ Thị Hà, Đại học Y Dược Huế
Học tích cực (active learning) là một phần quan trọng của triết lý giáo dục lấy người học làm trọng tâm. Bằng cách giúp cho sinh viên tham gia sâu vào quá trình học, sinh viên sẽ có khả năng tốt hơn áp dụng các kiến thức đã học. Khi thực hành dược chuyển từ nhấn mạnh vào sản phẩm, sang tập trung vào bệnh nhân, thì tiêu chuẩn năng lực của người dược sĩ cũng thay đổi. Những năng lực nghề nghiệp mới được yêu cầu gồm: tư duy phản biện, giao tiếp, khả năng đưa ra quyết định, và khả năng tự học. Và nhiều bằng chứng đã cho thấy học tích cực giúp sinh viên đạt được các năng lực nghề nghiệp trên tốt hơn phương pháp học thụ động truyền thống (1).
Một khảo sát của các trường dược ở Mỹ (2) cho thấy 87% những người khảo sát (giảng viên) sử dụng các kĩ thuật dạy tích cực trong lớp học. Những giảng viên trẻ, ở vị trí thấp hơn và thuộc các khoa/bộ môn về thực hành, lâm sàng, xã hội, hành vi- hành chính có xu hướng sử dụng phương pháp dạy tích cực nhiều hơn. Các chiến lược học tích cực tại các trường dược Mỹ được tóm tắt trong Bảng 1.
Bảng 1. Các chiến lược học tích cực tại các trường dược Mỹ
Chiến lược
Miêu tả ngắn
Hệ thống trả lời từ người học (audience response system/clickers)
Các sinh viên dùng các thiết bị điều khiển từ xa để trả lời nặc danh với các câu hỏi nhiều lựa chọn của giảng viên ; còn thể kết hợp trong thuyết trình truyền thống.
Học dựa vào thảo luận (discussion-based learning)
Giữa những người học giao tiếp, trao đổi với nhau ; có thể kết hợp với dùng các chiến lược khác như sử dụng tình huống lâm sàng.
Học tương tác lặp lại (interactive-spaced education)
Dạy nội dung và kiểm tra, sau đó lặp lại quá trình này sau các khoảng thời gian dài
Học tương tác dựa vào trang web (interactive Web-based learning)
Dùng các phương thức dựa trên trang web để cung cấp nội dung và đánh giá khả năng hiểu của sinh viên dưới hình thức tương tác
Đóng tình huống bệnh nhân (Patient simulation)
Dùng một người/thiết bị đóng vai bệnh nhân trong một môi trường thực  tập để dạy cho sinh viên cách phản ứng với các tình huống khác nhau. 
Học dựa trên quá trình (process-oriented guided inquiry learning)
Dùng các bài tập đặc biệt thiết kế để các nhóm sinh viên trải qua các bước : khám phá dữ liệu, xây dựng khái niệm dựa trên dữ liệu, và áp dụng các khái niệm.
Học dựa trên vấn đề hay tình huống (problem-based leaning, or case-based learning)
Dùng các tình huống hay vấn đề để các nhóm sinh viên tự giải quyết với sự hỗ trợ của giảng viên ;
Học dựa theo nhóm (team-based learning)
Dùng các nhóm nhỏ sinh viên để tạo thuận lợi cho việc thảo luận, phân tích tình huống lâm sàng hoặc các khía cạnh nội dung khác nhau ; cần chuẩn bị trước và nội dung được kết hợp xuyên suốt lớp học bởi giảng viên hay chuyên gia.
Thực hành trong phòng thí nghiệm truyền thống (traditional laboratory experience)
Dùng các phòng thí nghiệm truyền thống để cung cấp các trải nghiệm/bài thực hành tự tiến hành bằng tay.

Trong bài báo “An Active-Learning Strategies Primer for Achieving Ability-Based Educational Outcomes” (1), các tác giả đã đã trình bày ngắn gọn bằng chứng về lợi ích của việc sử dụng các chiến lược học tích cực trong đào tạo dược và đưa ra nhiều chiến lược để áp dụng học tích cực vào chương trình dược trong lớp học cũng như trong thực hành nghề. Đặc biệt bài báo cũng đưa ra các giải pháp để khắc phục những khó khăn và thách thức khi áp dụng học tích cực.
Bảng 2. Các chiến lược học tích cực trong lớp học
Suy nghĩ – Ghép cặp-Chia sẽ (think-pair-share)
Các sinh viên được giao một bấn đề và đầu tiên giành 1-2 phút để suy nghĩ về vấn đề một mình (bước Suy nghĩ – Think). Kế đó, sinh viên dành 3-5 phút thảo luận vấn đề đó với một sinh viên khác (bước Ghép cặp-Pair). Cuối cùng giảng viên yêu cầu sinh viên của các cặp chia sẽ với toàn bộ lớp (bước Chia sẽ-Share).
Viết ngắn (minute writes)
Sinh viên được giao một câu hỏi mở cụ thể liên quan đến một khái niệm của môn học và được yêu cầu viết câu trả lời trong 1-2 phút.
Điểm còn khó hiểu (muddiest point)
Giống nhữ bài tập Viết ngắn ở trên, nhưng yêu cầu sinh viên viết ra điểm còn khó hiểu nhất của buổi học. Hình thức này thường tiến hành cuối buổi học. Giảng viên thu thập câu trả lời và làm sáng tỏ trong buổi học tới hoặc thông qua thảo luận online hay email.
Trao đổi ghi chép (notes exchange)
Bài giảng (lecture) dừng 3-5 phút, đặc biệt sau khi giảng viên giới thiệu một khái niệm quan trọng, và sinh viên được yêu cầu trao đổi và so sánh ghi chép của nhau.
Đặt câu hỏi kiểu Socrat
Thay vì cung cấp cho sinh viên câu trả lời, giảng viên hỏi sinh viên để sinh tiên tự khám phá ra câu trả lời. Ví dụ các câu hỏi kiểu Socrat : Các em nghĩ nguyên nhân của hiện tượng này là gì và vì sao ? Hậu quả của giả thuyết đó là gì ? Khái niệm này liên quan như thế nào với kiến thức các em đã học trước đây ? Điểm mạnh và điểm yếu của bằng chứng ủng hộ giả thuyết đó là gì ?
Tranh luận (debate)
Giảng viên chọn một chủ đề còn tranh cãi vốn có những quan điểm ủng hộ và chống đối. Sinh viên được chia thành nhóm tranh luận với nhau.
Đóng kịch (role play)
Sinh viên được giao một vai để đóng kịch trong một tình huống cho sẵn. Ví dụ : nếu mục tiêu là cải thiện khả năng giao tiếp với bệnh nhân, giảng viên sẽ chia sinh viên thành nhóm 3 người : một người đóng vai là bệnh nhân, một người là dược sĩ, một người đóng vài trò là người quan sát, đánh giá. Sau đó, mọi người đổi vai cho nhau sau cho mỗi sinh viên đều lần lượt có cơ hội đóng vai bệnh nhân, dược sĩ và người quan sát.
Báo cáo bởi sinh viên (student presentation)
Sinh viên, làm cá nhân hoặc theo nhóm, được giao một chủ đề và phải nghiên cứu, chuẩn bị một báo cáo trước lớp
Bổ sung online (online supplementation)
Học online có thể dưới dạng : bài đọc dựa trên trang web, bài giảng, các bài tự đánh giá hoặc các forum thảo luận.

Bảng 3. Các đề nghị để làm tăng học tích cực ở cơ sở thực hành
Lôi cuốn sinh viên dè dặt
·         Thảo luận các chủ đề lựa chọn của sinh viên khi sinh viên phải giới thiệu hay trả lời.
·         Giao bài đọc online hay các câu hỏi tự lượng giá trước khi thảo luận trực tiếp
·         Cung cấp các ví dụ về các hoạt động của chương trình thực tập sẽ giúp sinh viên đạt điểm tốt trong kì thi hay thực hành nghề nghiệp trong tương lai.
Bảo đảm là kinh nghiệm vẫn sống động
·         Vào cuối ngày hay đợt thực tập, tiến hành cho sinh viên tự đánh giá, tổng kết để ít nhất tổng kết các điểm chính học được
·         Cân nhắc dùng tương tác tăng dần khi chương trình học cao dần
·         Miêu tả những kinh nghiệm trong đó sinh viên đã áp dụng ý thuyết đã học vào thực tế.
·         Với thực hành ở quầy thuốc, sinh viên nên tập trung vào việc đưa ra lời khuyên chủ động khi bán các thuốc OTC hay các thuốc kê đơn (đặc biệt 200 thuốc phổ biến nhất) với đánh giá của dược sĩ quầy thuốc.
Dùng các nguyên tắc thách thức tăng dần
·         Khuyến khích sinh viên học từ các mức độ tăng dần : từ nhớ, đến hiểu, đến áp dụng….
·         Xác định các mục tiêu cao trong thực tập
·         Khuyến khích sinh viên tự quản lý, tự chịu trách nhiệm lấy việc học của mình
Tìm cách thách thức sinh viên hàng ngày
·         Đưa ra câu hỏi hay vấn đề cần học mỗi ngày và kiểm ra sinh viên cuối ngày
·         Khuyến khích các cán bộ y tế thách thức sinh viên với các vấn đề cần giải quyết
·         Kết hợp so le nhau : kết hợp một sinh viên ít kinh nghiệm với một sinh viên nhiều kinh nghiệm hơn để hướng dẫn cho nhau.



Bảng 4. Bí quyết để khắc phục các khó khăn và thách thức khi áp dụng chiến lược học tích cực tại cơ sở thực hành
Thúc đẩy hiệu quả làm việc nhóm
·         Giáo sinh viên các hoạt động, bệnh nhân khác nhau
·         Lên kế hoạch cho sinh viên gặp nhau cuối ngày để dạy cho nhau về những gì các sinh viên đã học được
·         Sinh viên cần ghi tóm tắt cuối mỗi tuần thực tập về những gì đã làm được trong tuần, cho bản báo cáo cuối đợt thực tập.
·         Phối hợp cho sinh viên gặp mặt với những người hướng dẫn tại bệnh viện hay giảng viên của khoa, các sinh viên dược khác để thảo luận về một chủ đề hay ca lâm sàng
Tăng động lực học
·         Cần tìm hiểu mục tiêu nghề nghiệp tương lai của mỗi sinh viên bằng cách cho sinh viên làm bài khảo sát trước khi bắt đầu đợt thực tập.
·         Hỏi sinh viên điều gì hữu ích nhất giúp cải thiện kĩ năng lâm sàng hoặc chuẩn bị cho công việc tương lai
·         Giải thích lý do đằng sau mỗi hoạt động thực tập
·         Cho phép sinh viên trực tiếp thực hiện một số hoạt động sớm. Điều này cho phép sinh viên cảm thấy có ích và được lắng nghe.
·         Yêu cầu sinh viên luôn tự đánh giá về những gì làm được và chưa làm được trong đợt thực tập để sinh viên có khả năng tự cải thiện.
·         Cung cấp những ví dụ cho thấy những hoạt động của sinh viên rất hữu ích cho thực hành/kiến thức và có khả năng ảnh hưởng lên chất lượng điều trị của bệnh nhân.
Tạo sự tự tin về dạy học tích cực cho người hướng dẫn thực tập (preceptor)
·         Bố trí thời gian cho khoa dược giảng dạy và người hướng dẫn thực tập gặp gỡ nhau, và chia sẽ các kinh nghiệm tích cực về thực tập của sinh viên
·         Chia sẽ các bí quyết giảng dạy khi thực tập
·         Sắp xếp cho khoa dược giảng dạy và người hướng dẫn thực tập thăm quan, tìm hiểu thực hành chuẩn của cơ sở thực hành 1-2 ngày
Thời gian hạn chế
·         Tạo cơ hội cho sinh viên dạy cho sinh viên khác
·         Dùng các sinh viên lớp trên hay bậc cao hơn hướng dẫn cho các sinh viên lớp thấp hơn. Như vậy,  giảng viên và người hướng dẫn thực tập có thể nhường một số hoạt động cho nhóm sinh viên lớp cao này.
·         Dược sĩ bậc thấp hơn (trung cấp) và các cán bộ y tế khác có thể tham gia các hoạt động giảng dạy.
Giữ cho đợt thực tập được tổ chức tốt
·         Bắt đầu đợt thực tập, cung cấp cho sinh viên một khóa biểu về ngày, giờ thực tập, nhiệm vụ, những đợt đánh giá giữa đợt và cuối đợt, các chủ đề thảo luận, báo cáo.
·         Dành thời gian cuối ngày, để tóm tắt với sinh viên những gì làm được trong ngày và lên kế hoạch ngày kế tiếp.
·         Cần đưa ra các phản hồi thường quy. Dành 5-10 phút bắt đầu và cuối mỗi tuần để thảo luận những gì đã làm được trong tuần và lên kế hoạch cho tuần kế tiếp.


Trong thực tế, giảng viên không những cần lên kế hoạch sử dụng các kĩ thuật/chiến lược dạy tích cực khác nhau cho mỗi tiết học riêng rẻ; mà cần lập kế hoạch phối hợp nhiều kĩ thuật/hoạt động khác nhau qua nhiều tiết học để đạt một mục tiêu chung cho cả học phần. Các giảng viên của Trường Rhode Island Mỹ đã thiết kế thành công một khóa học tích cực về Dược điều trị trong Lão khoa (3). Khóa học bao gồm các chuỗi hoạt động:
+ Đánh giá trong lão khoa: sinh viên được giới thiệu các công cụ đánh giá thường được sử dụng trong lão khoa như thang đánh giá chức năng tâm thần, Braden Scale, thang đánh giá dùng thuốc như Medication Appropriatness Index.
+ Các buổi thuyết trình ngắn: về các kiến thức cơ bản trong lão khoa như các triệu chứng hay gặp ở người già.
+ Thỏa luận ca lâm sàng: có 5-20 ca lâm sàng và sinh viên bắt cặp với nhau và được giao giải quyết tình huống của một ca lâm sàng, sau đó thảo luận với lớp.
+ Các vấn đề còn tranh cãi trong lão khoa: sinh viên chia nhóm 3 người được giao đánh giá và giới thiệu trước lớp một vấn đề còn tranh cãi trong lão khoa.
+ Xem phim và đọc sách: để khơi dậy sự cảm thông, đồng cảm của sinh viên khi chăm sóc người già, sinh viên được xem một bộ phim về người già và viết bài luận tập trung vài vấn đề diễn ra trong phim. Hoặc sinh viên được giao đọc một quyển sách về người già và viết bài luận.
+ Thực hành tại cơ sở: sinh viên được đi thăm quan, thực hành tại một khoa lão khoa để làm quen và thực hành các kĩ năng cơ bản như quan sát các hoạt động của y tá, tham gia hội chẩn, phỏng vấn bệnh nhân, đánh giá dùng thuốc của bệnh nhân. Mỗi sinh viên được giao phụ trách một bệnh nhân và trực tiếp tương tác với bệnh nhân, lên kế hoạch và thực hiện chăm sóc dược cho bệnh nhân đó. 
Tóm lại, các chiến lược học tích cực nên được phối hợp vào trong các chương trình đào tạo dược hiện hành để giúp sinh viên đạt được năng lực nghề nghiệp cao hơn. Khi phát hiện các rào cản trong việc sử dụng các phương pháp học tích cực, cần tìm giải pháp để khắc phục nó. Sinh viên dược cần được chuẩn bị tự tạo đồng lực và khả năng học suốt đời để đáp ứng những thách thức nghề nghiệp trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:
1.      Brenda L. Gleason, Michael J. Peeters, Beth H. Resman-Targoff, Samantha Karr, Sarah McBane, Kristi Kelley, Tyan Thomas, and Tina H. Denetclaw (2011). An Active-Learning Strategies Primer for Achieving Ability-Based Educational Outcomes. American Journal of Pharmaceutical Education: Volume 75, Issue 9, Article 186.
2.      David W. Stewart, Stacy D. Brown, Cheri W. Clavier, and Jarrett Wyatt (2011). Active-Learning Processes Used in US Pharmacy Education. American Journal of Pharmaceutical Education: Volume 75, Issue 4, Article 68.
3.      Erica L. Estus, Anne L. Hume, and Norma J. Owens (2010). An Active-Learning Course Model to Teach Pharmacotherapy in Geriatrics. American Journal of Pharmaceutical Education: Volume 74, Issue 3, Article 38.


Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

Tương tác thuốc giữa thuốc chẹn canxi và thuốc bổ sung canxi ?

Nhóm Dược sĩ tư vấn
Câu hỏi 15
 

Một bệnh nhân nam 65 tuổi bị tăng huyết áp nguyên phát vô căn 10 năm, đang điều trị bằng thuốc chẹn kênh calci amlodipin. Bệnh nhân bị mắc kèm loãng xương nên muốn uống bổ sung canxi hàng ngày. Liệu có xảy ra tương tác giữa thuốc chẹn kênh canxi amlodipin và thuốc bổ sung canxi hay không? Trong trường hợp này, bệnh nhân cần thay đổi thuốc thế nào?

Trả lời:
Việc dùng chung hai thuốc có thể gây tương tác do sự đối kháng về dược lực học: một thuốc chẹn kênh canxi, còn một thuốc làm tăng nồng độ canxi trong máu. Canxi clorid được dùng để xử lý độc tính cấp nghiêm trọng khi dùng verapamil. Tương tác dẫn đến nguy cơ làm giảm hiệu quả của amlodipin trong việc kiểm soát huyết áp, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng như: tăng huyết áp, đau ngực, chóng mặt, choáng váng hoặc ngất. Tương tác được ghi nhận ở mức độ trung bình (có ý nghĩa lâm sàng ở mức trung bình, thường nên tránh phối hợp, dùng chỉ trong những trường hợp đặc biệt).

Bệnh nhân tăng huyết áp 10 năm đã điều trị ổn với amlodipin. Nếu phải dùng thêm canxi, bệnh nhân cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có sự cân nhắc điều chỉnh liều, hoặc thời gian dùng thuốc (việc sử dụng canci và amlodipin ở hai thời điểm cách xa nhau có thể làm giảm nguy cơ tương tác), hoặc cân nhắc đổi thuốc trị tăng huyết áp. Lưu ý cần theo dõi huyết áp thường xuyên và các dấu hiệu chóng mặt, choáng váng khi dùng chung hai thuốc.

DS. Lý Đa Đạt
TLTK:
1. Interaction between Calcium and Amlodipine. Link: http://www.drugs.com/interactions-check.php?drug_list=172-0,2917-13737
2. Interactions: Calcium Channel Blockers/ Calcium Supplements. Link: http://www.webmd.com/drugs/2/drug-5891/amlodipine-oral/details/list-interaction-details/dmid-488/dmtitle-calcium-channel-blockers-calcium-supplements/intrtype-drug
3. Can Calcium Tablets Be Taken With Amlodipine Besylate? Link: http://www.livestrong.com/article/550445-can-calcium-tablets-be-taken-with-amlodipine-besylate/
4. Calcium tablets with Norvasc. Link: http://forum.parkinson.org/index.php?/topic/14588-calcium-tablets-with-norvasc/

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

Kinh nghiệm đào tạo thực hành cho sinh viên dược tại Pháp



Kinh nghiệm đào tạo thực hành cho sinh viên dược tại Pháp

TS.DS. Võ Thị Hà

Tại Pháp, các dược sĩ (DS) thực hành với chức năng, nhiệm vụ rất khác nhau. Các chương trình đào tạo được thiết lập để đáp ứng với tiêu chuẩn nghề nghiệp khác nhau của DS. Vì vậy, mục tiêu của đào tạo là giúp DS đạt:
-      các kiến thức cơ bản trong lĩnh vực khoa học chính xác và khoa học sinh học;
-      kiến thức chuyên ngành của các lĩnh vực cần thiết về nghiên cứu thuốc và các sản phẩm y tế khác;
-      các năng lực cần thiết để sử dụng tốt các kiến thức đó
-      lĩnh hội kiến thức y và dược; các kiến thức liên quan đến lĩnh vực khoa học ứng dụng với thuốc và các sản phẩm y tế khác, của khoa học sinh học, của bệnh học, y tế công cộng và điều trị.
-       lĩnh hội kiến thức thực hành: thực tập và đào tạo ứng dụng vào thực hành nghề nghiệp
-       lĩnh hội các năng lực cho phép bảo đảm vai trò biết lắng nghe và hỗ trợ bệnh nhân
-       đào tạo về phương pháp tiếp cận khoa học
-       học cách làm việc nhóm, lĩnh hội các kĩ thuật giao tiếp, những kĩ năng không thể thiếu khi thực hành nghề nghiệp
Tổ chức các đợt thực tập trong chương trình đào tạo dược tại Pháp:
-          Pháp là một trong những nước hiếm hoi của châu Âu chỉ phát bằng Dược sau khi sinh viên hoàn thành 6 năm học, trong đó có năm học đầu tiên sinh viên dược học chung với sinh viên y, nha, nữ hộ sinh. Cuối năm một sẽ có một kì thi tuyển chọn để có thể trở thành sinh viên dược. 
-          Việc giảng dạy bao gồm giảng dạy lý thuyết, thực hành và thực tập.  Thực hành chia làm 2 hình thức chính là: Thực hành ứng dụng (travail pratique) và Thực hành theo hướng dẫn (travaux dirigé) chiếm từ 25% đến 75% chương trình. Thực hành ứng dụng tương tự như thực hành trong labo thí nghiệm của Việt Nam. Thực hành theo hướng dẫn thì tương tự như dạy theo nhóm nhỏ tại Việt Nam, đây là một hình thức giáo dục cho phép sinh viên áp dụng các kiến thức đã học trong các bài giảng lý thuyết trước đó. Sinh viên làm việc cá nhân các bài tập ứng dụng với sự hiện diện của các giảng viên, người sẽ can thiệp để giúp đỡ và sửa các bài tập. Các hướng dẫn được tiến hành theo các nhóm nhỏ để giảng viên giúp học sinh dễ dàng hơn. Tỷ phần của phương pháp dạy học thực hành này tăng dần theo các năm của bậc đại học. 
-          Các đợt đi thực tập là một phần quan trọng của chương trình đào tạo của sinh viên. Một đợt thực tập bắt buộc kéo dài 2 tuần đến 6 tháng tùy theo năm học của sinh viên. Các đợt thực tập bắt buộc diễn ra tại các cơ sở như quầy thuốc, bệnh viện và tự chọn tùy vào hướng lựa chọn chuyên ngành của sinh viên mà có thể thực tập tại các cơ sở nghiên cứu hoặc công nghiệp dược hoặc sức khỏe. Trong 6 năm đào tạo giành cho sinh viên dược, sinh viên có thời gian thực tập tổng cộng tương đương một năm thực tập trọn vẹn, thời gian thực tập được rải đều qua các năm từ năm 2 đến năm 6.
Năm 2: 6 tuần tại quầy thuốc
Năm 3 và 4: 3 tuần tách riêng của đợt thực tập ứng dụng liên quan đến các chủ đề giảng dạy phối hợp (Phương pháp giảng dạy phối hợp sẽ được trình bày chi tiết trong một bài khác).
Năm 5: Tại Pháp, đợt thực tập vào năm 5 tại bệnh viện được tiến hành từ năm 1985, kéo dài 12 tháng bán thời gian [tức tất cả các buổi sáng sinh viên đi thực tập tại BV] hoặc 6 tháng toàn thời gian tùy theo từng lựa chọn chuyên ngành và trường dược, phân bổ đi Dược bệnh viện, Sinh y học [xét nghiệm sinh hóa], và các dịch vụ dược lâm sàng.
Năm 6: 6 tháng thực tập tại địa điểm thực hành được lựa chọn bởi sinh viên (quầy thuốc, công ty dược, nghiên cứu). Các sinh viên thi đậu kì thi dược nội trú thì thực hiện thực tập năm thứ 6 tại BV. 
-          Đạo tạo chuyên ngành dược được tổ chức tại Pháp kể từ học kì II năm thứ 4 đại học thành 4 hướng: quầy thuốc, công nghiệp dược, nghiên cứudược bệnh viện. Hai chuyên ngành cuối tương ứng với việc chuẩn bị thi kì thi nội trú. Việc chọn chuyên ngành nội trú (4 chuyên ngành nội trú) dựa theo xếp hạng của đợt thi nội trú: - hoặc là sinh học y khoa (dược nội trú này có phép mở một phòng xét nghiệm sinh học sau khi tốt nghiệp), - hoặc DS bệnh viện (sau khi hoàn thành sinh viên dược nội trú có thể xin vào làm trợ lý cho một DS bệnh viện tại BV, rồi sau đó vài năm thì thi kì thi để trở thành DS thực hành BV) – hoặc công nghiệp dược, - hoặc nghiên cứu (dược chuyên khoa). Dù là lựa chọn chuyên ngành nội trú dược nào, các nội trú dược vẫn phải thực tập tại BV và đảm nhận các công việc hàng ngày tại BV trong vòng 4 năm (chia làm 8 kì, mỗi kì 6 tháng) trong các khoa lâm sàng bệnh viện (lâm sàng và dược) song song đó sinh viên theo học các khóa học lý thuyết để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai. Tại Pháp, nội trú dược là điều kiện để tuyển dụng làm DSBV. Điều này là bắt buộc kể cả các cơ sở tư nhân.
-          Sau đó, còn có các chuyên ngành sâu hơn trong mỗi chuyên ngành trên tùy theo khoa dược của mỗi trường và nước Pháp có tổng 24 khoa dược, mỗi khoa có thể có những chương trình đạo tạo chuyên ngành khác nhau. Với chuyên ngành công nghiệp dược, phần lớn sinh viên theo học thêm khóa đào tạo bổ sung (thạc sĩ nghề nghiệp hoặc nghiên cứu) tùy theo lựa chọn của mình (marketing, quản lý, sản xuất, kinh doanh...)
-          Các đợt thực tập được bố trí luân phiên, xen kẽ với đào tạo lý thuyết và các đợt thực tập cho phép sinh viên tiếp xúc với các nhóm nghề nghiệp thực hành khác nhau như quầy thuốc hay cộng đồng, bệnh viện, công nghiệp dược, các cơ sở quản lý nhà nước (địa phương, vùng, quốc gia). Điều quan trọng của các đợt thực tập là có thể cho phép các sinh viên làm quen với các bệnh nhận, chăm sóc bệnh nhân cũng như làm quen với vai trò của các cán bộ y tế khác (bác sĩ, điều dưỡng....) và làm thế nào DS có thể tham gia hợp tác, làm việc nhóm bằng các hoạt động chuyên môn của mình như (1) sản xuất, bào chế một số loại thuốc, (2) tổ chức cung ứng thuốc cho bệnh nhân, (3) hiểu về cơ chế hoạt động của thuốc, (4) sử dụng tốt thuốc. 

Các yêu cầu tổ chức đợt thực tập
-          Các mục tiêu của mỗi đợt thực tập và cách thức để đạt được các mục tiêu này được xác định rõ ràng, được biên soạn bởi nhà trường phối hợp với các đồng nghiệp.
-          Điều quan trọng là phát triển mối quan hệ trường-bệnh viện để sinh viên trong quá trình học, được đào tạo làm quen với bác sĩ để hiểu về mối quan hệ cán bộ y tế/bệnh nhân (liên quan đến xét nghiệp sinh học, giáo dục điều trị-thuốc cho BN, quản lý thuốc) và các yếu tố khác quyết định đến việc kê đơn (các hướng dẫn điều trị khoa học).
-          Việc tiếp cận với BN là thiết yếu để các cán bộ y tế học cách nhận biết nhu cầu, và điều chỉnh điều trị phù hợp với nhóm đối tượng BN (người lớn tuổi, trẻ em) và các các bệnh đặc biệt (các bệnh hiếm).
-          Điều quan trọng là cần xác định rõ các mục tiêu giáo dục, cách thức hướng dẫn sinh viên, các nhiệm vụ/công việc mà sinh viên phải thực hiện, các lợi ích mang lại của các công việc này của sinh viên với BN và với các cán bộ y tế khác.
-          Có đợt ngắn để đào tạo sinh viên ngay trước khi đợt thực tập bắt đầu để chuẩn bị cho sinh viện các kiến thức - kĩ năng để có thể thực hành tốt tại BV. 
Đội ngũ giảng viên
DLS là lĩnh vực thiết yếu cần được đào tạo cho DS với điều kiện là có một bộ phận giảng viên DLS tham gia thực hành tại BV hay quầy thuốc.
Thực vậy, cần phải có các giảng viên vừa tham gia giảng dạy ở trường, vừa thực hành tại BV và có các DS tại quầy thuốc làm hướng dẫn thực tập tại quầy thuốc cho SV. Các DS là giảng viên có thể đào tạo thực hành cho sinh viên dược thông qua các đợt thực tập của SV tại quầy thuốc và BV (trong khoa dược, các khoa lâm sàng), cần xác định chính xác các nhiệm vụ, công việc cần phải làm bởi sinh viên khi đi thực tập trong chương trình đào tạo dược.
Đội ngũ giảng viên giảng dạy và hướng dẫn thực tập cho sinh viên gồm: giảng viên chính thức của trường, giảng viên vừa tham gia thực hành tại bệnh viện, giảng viên thỉnh giảng, các dược sĩ tại quầy thuốc.
Tại Pháp, các cán bộ y tế đều có cùng một chức danh (statut) [Các statut này quyết định mức lương của mỗi cán bộ y tế, vì statut của ngành dược và y trong BV là giống nhau, nên lương của DS và BS cũng bằng nhau trong BV. Không giống với một số nước châu Âu khác là lương BS cao hơn lương DS.] Từ năm 1988, DS và BS làm việc tại bệnh viện có cùng một statut, gọi là nhà thực hành tại BV (praticien hospitalier - PH). Tương tự, statut "hospitalo-universitaire" (người vừa thực hành tại BV, vừa giảng dạy tại trường) cũng giống nhau giữa BS và DS từ năm 2006. Có quá trình tuyển dụng đặc biệt để có thể đạt được statut "hospitalo-univeritaire", yêu cầu tối thiểu là hoàn thành chương trình nội trú dược (4 năm).
Các DS nhận hướng dẫn sinh viên thực tập được đào tạo ngắn hạn để có thể hướng dẫn tốt sinh viên khi đi thực tập và các địa điểm nhận sinh viên thực tập được thẩm định chất lượng trước khi được phép nhận sinh viên. Tại Pháp, các đồng nghiệp DS tại quầy thuốc nhận hướng dẫn thực tập cho sinh viên tham gia vào việc theo dõi giảng dạy sinh viên cùng với Khoa Dược trường. Có một trường cung cấp khóa đào tạo gắn giành cho dược sĩ muốn hướng dẫn thực tập cho sinh viên tại quầy thuốc:  http://cpcms.fr/  
Trường dược cũng tuyển dụng các giảng viên "thỉnh giảng" là những DS hành nghề được mời làm giảng viên của khoa/trường. Những hợp đồng được kí giữa trường với các cá nhân chuyên môn để tiếp nhận sinh viên thực tập.
Ngoài ra, chương trình thực tập còn bố trí sự hướng dẫn theo phân cấp, cấp cao hơn chịu trách nhiệm hướng dẫn cho cấp thấp hơn. Ví dụ, trong một khoa lâm sàng có sinh viên dược 5, sinh viên dược nội trú, và dược sĩ thì dược sĩ sẽ hướng dẫn và giám sát chính cho sinh viên dược nội trú, tiếp đó sinh viên dược nội trú lại chịu trách nhiệm hướng dẫn cho sinh viên dược 5. 
Sinh viên khi đi thực tập được yêu cầu tiến hành thu thập bệnh án, phân tích bệnh án và báo cáo trong các buổi học nhóm của lớp hoặc các buổi trao đổi chuyên môn của các dược sĩ thuộc khoa lâm sàng (thường 1 lần/tuần) giúp cho sinh viên tiếp cận các vấn đề thực tế và học cách giải quyết chúng.
Sinh viên cũng được khuyến khích lựa chọn và tiến hành các đề tài nghiên cứu, đề tài tốt nghiệp là các chủ đề hữu ích trong thực hành dược, liên quan mật thiết đến kinh nghiệm đi thực tập.