PGS.TS.BS. Nguyễn Văn Hùng (Trưởng Khoa Dược, ĐH Y Dược Hải Phòng)
Với sự phát triểnnhanh
chóng của công nghệ dược, nhiều thuốc và dạng thuốc mới ra đời, chức năng “sản
xuất thuốc” của dược sỹ giảm
dần, tầm quan trọng của việc sử dụng
thuốc hợp lý tăng lên.
Một nghiên cứu của Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ do Edward C.Elliot thực hiện trong
các năm 1946-1949 đã khuyến nghị cần phải đào tạo dược sỹ trong 6 năm, và người
tốt nghiệp sẽ được gọi là doctor of
pharmacy (viết tắt là PharmD).
Tuy nhiên, còn nhiều tranh cãi xung quanh khuyến nghị đào tạo dược sỹ hệ
PharmD, nhất là tên gọi Doctor of Pharmacy, dễ nhầm lẫn với từ Bác sỹ (dược). Một
số trường Dược đi tiên phong đã thực hiện khuyến nghị, đào tạo PharmD từ những
năm 1950. Năm 1954, Hiệp hội các trường đại học dược Hoa Kỳ(American Association
of College of Pharmacy, AACP) đã thoả hiệp thực hiện chương trình 5 năm cho đào
tạo dược sỹ, thay vì chỉ 2 đến 3 năm như trước đó, người tốt nghiệp được cấp bằng
Cử nhân dược.
Năm 1973, AACP tiến hành một nghiên cứu về chương trình đào tạo dược sỹ,
nhiều khuyến nghị tăng cường các môn học lâm sàng vào chương trình đào tạo dược
sỹ. Năm 1978, trong cuộc bỏ phiếu của AACP, chỉ có 25% các trường đồng ý với
chương trình đào tạo PharmD, (tạm dịch là dược sỹ lâm sàng), đa số (75%) vẫn ủng
hộ giữ nguyên chương trình đào tạo dược sỹ 5 năm. Đến cuộc họp AACP năm 1985 đã
có 43% số trường ủng hộ chuyển đổi hoàn toàn sang đào tạo PharmD, 57% yêu cầu
giữ nguyên hệ đào tạo cử nhân dược.
Sự chuyển đổi chương trình từ Cử nhân
dược sang Dược sỹ lâm sàng
(PharmD) chính thức được bắt đầu kể từ khi Hội đồng kiểm định về đào tạo Dược
Hoa Kỳ (ACPE) ban hành “Tiêu chuẩn kiểm định
và hướng dẫn chương trình chuyên môn dược dẫn tới việc công nhận trình độ Dược
sỹ lâm sàng” vào tháng 6 năm 1997. Kể từ thời điểm này, toàn bộ các Trường
đại học dược Hoa Kỳ bắt buộc phải chuyển đổi sang hệ đào tạo PharmD (hệ 6 năm)
nếu muốn được cấp chứng chỉ hành nghề dược.
Mục tiêu đào tạo dược sỹ hệ
PharmD
Thay đổi chính về mục tiêu và chương trình đào tạo do ACPE đề ra là hướng tới
người bệnh, và bắt buộc với tất cả các Trường đại học dược từ 1997. Mục tiêu đào tạo như sau:
-
Cung
cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh, hợp tác với bệnh nhân, người kê đơn, và các
thành viên khác trong nhóm chăm sóc sức khoẻ đa ngành, với các nguyên lý trị liệu
chuẩn mực, các thông tin dựa trên bằng chứng, chú ý đến các khía cạnh nghề nghiệp
khác, như kinh tế, văn hoá, xã hội, đạo đức, pháp lý; sự phát triển nhanh chóng
của khoa học y sinh, khoa học kỹ thuật, những lĩnh vực có thể tác động tới kết
quả điều trị.
-
Quản
lý và sử dụng các nguồn lực của hệ thống y tế, phối hợp với bệnh nhân, thầy thuốc
và những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác để tăng cường sức khoẻ,
để cung cấp, đánh giá và điều phối quá trình phân phối thuốc một cách an toàn,
chính xác, đúng hạn và cải thiện kết quả điều trị và sử dụng thuốc.
-
Thúc
đẩy cải thiện sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật, hợp tác với bệnh nhân, cộng đồng,
các quần thể dân cư có nguy cơ cao và những thành viên khác của nhóm chăm sóc sức
khoẻ đa ngành.
Để đạt được các mục tiêu và các chuẩn đầu ra do ACPE ban hành, cần các mục
tiêu chi tiết để giúp phát triển kỹ năng và quá trình tự học tập suốt đời của
dược sỹ, do các cơ sở đào tạo tự xây dựng.
Chương trình đào tạo tập trung
vào chăm sóc người bệnh
Chương trình đào tạo nhằm giáo dục các kỹ năng chăm sóc bệnh nhân, bên cạnh
kiến thức đầy đủ về thuốc, chương trình phải dành nhiều thời gian cho các liệu
pháp điều trị, giao tiếp và đánh giá người bệnh.
Từ năm 2000 trở lại đây, toàn bộ các Trường đại học dược của Hoa Kỳ đã chuyển
đổi sang đào tạo PharmD không còn đào
tạo Cử nhân dược. Một số chương trình ngắn hạn nhằm chuyển đổi cho những ai có
bằng cử nhân dược để lấy bằng PharmD cũng được thực hiện.
Thời gian đào tạo Dược sỹ lâm sàng
là 6 năm. Tuy nhiên, học sinh hoàn thành chương trình học đại học đại cương,
thường là 2 năm, tại các trường đại học, tương ứng với khoảng 60-90 đơn vị học
trình. Yêu cầu 2 năm này gồm các môn khoa học cơ bản, toán, lý, hoá, sinh, khoa
học xã hội và nhân văn.
Sinh viên đủ tiêu chuẩn (đã qua 2 năm đại học) có thể nộp hồ sơ thi tuyển
vào học đại học dược, thường là 4 năm (8 học kỳ). Một số Trường đào tạo 3 năm,
với chương trình 3 kỳ mỗi năm (học cả hè).
Chuẩn thứ 13 do ACPE qui định, các nội dung chủ yếu về Kiến thức, Thái
độ và Kỹ năng cần có của Dược sỹ lâm sàng gồm:
Khoa học y sinh: Giải phẫu và sinh lý; Bệnh học và sinh lý bệnh học; Vi
sinh vật; miễn dịch học; Hoá sinh và kỹ thuật hoá sinh; Sinh học phân tử và di
truyền; Thống kê y sinh.
Khoa học về dược: Hoá dược; Dược lý; Dược liệu; Hoá sinh lâm sàng; Dược
phẩm và sinh dược học; Dược động học; Dược di truyền; Công nghệ bào chế
Khoa học xã hội, hành vi và quản
lý: Hệ thống chăm sóc
sức khoẻ; Kinh tế dược; Quản lý thực hành dược; Dịch tễ dược; Luật dược; Lịch sử
ngành dược; Đạo đức; Giao tiếp; Khoa học xã hội và hành vi.
Khoa học lâm sàng: Thực hành dược và dịch vụ chăm sóc do dược sỹ thực hiện;
Hệ thống phân phối và bán thuốc; Điều trị học; Chăm sóc dược giành cho những nhóm dân cư đặc biệt; Thông
tin thuốc; An toàn thuốc; Đánh giá thông tin thuốc và thiết kế nghiên cứu; Thực
hành đánh giá người bệnh.
Yêu cầu đầu vào với sinh viên
dược:
Đã qua ít nhất 2 năm học đại học tại bất kỳ trường đại học được kiểm định
nào, bao gồm các nội dung chính: Hóa học cơ bản, sinh học cơ bản, thống kê
trong y sinh học, hùng biện, hóa hữu cơ, giải phẫu người, sinh lý người, vi
sinh vật và một số môn khoa học tự chọn.
Sau khi hoàn thành 2 năm học với các môn nêu trên, sinh viên có thể nộp hồ
sơ xin thi vào Đại học Dược. Tỷ lệ cạnh tranh để vào trường dược loại tốt nhìn
chung rất cao. Ví dụ tại Trường Dược thuộc đại học UCSF và Trường Dược đại học
Iowa, 80-90% sinh viên dự thi đầu vào đã tốt nghiệp đại học (thường là sau 4
năm học, thay vì 2 năm như yêu cầu).
Chương
trình giáo dục của một Trường đại học Dược
Dưới đây là chương trình của Trường đại học Dược, Đại học
Iowa, năm 2009 (học 4 năm).
Học kỳ 1
|
Số giờ
|
Thực
hành dược tại labo I
|
2
|
Hoá
sinh cho dược
|
4
|
Dược
phẩm I: dung dịch
|
4
|
Giới
thiệu về bệnh học người
|
4
|
Nguyên
lý cơ bản trong đánh giá nghiên cứu lâm sàng
|
1
|
Tổng
|
15
|
Học kỳ 2
|
|
Thực
hành dược tại labo II
|
2
|
MNPC
I: kỹ thuật sinh học và hoá trị liệu
|
3
|
Dược
phẩm II: thuốc dạng rắn và mềm
|
4
|
Dược
lý học I
|
3
|
Các
khía cạnh xã hội của chăm sóc dược
Giới
thiệu về thực hành dược
|
2
1
|
Tổng
|
15
|
1
đơn vị học trình tương đương 15 tiết,
mỗi tuần học 1 ĐVHT, học kỳ có 15 tuần
|
|
Học kỳ 3
|
|
Thực
hành dược tại labo III
|
2
|
MNPC
II: Dược động học
|
3
|
Dược
lực học/sinh dược học
|
3
|
Giới
thiệu về điều trị học
|
2
|
Điều
trị học: sức khoẻ nam và nữ
|
2
|
Dược
lý học II
|
4
|
Giới
thiệu thực hành dược cộng đồng**
|
3
|
Tổng
|
19
|
Học kỳ 4
|
|
Thực
hành dược tại labo IV
|
2
|
MNPC
III: Hoá thần kinh y học
|
3
|
Dược
lực học lâm sàng
|
3
|
Điều
trị học: hệ hô hấp
|
2
|
Điều
trị học: bệnh tim mạch
|
2
|
Kỹ
năng thực hành lâm sàng I
|
1
|
Giới
thiệu về thực hành dược bệnh viện**
Môn
lựa chọn
|
2
3
|
Tổng
|
18
|
Học kỳ 5
|
|
Thực
hành dược tại labo V
|
2
|
Điều
trị học: FEN, GI, thận
|
2
|
Điều
trị học: miễn dịch, huyết học
|
2
|
Kỹ
năng thực hành lâm sàng II
|
2
|
Kinh
tế dược và bảo hiểm y tế
|
3
|
Đánh
giá thông tin về thuốc
|
2
|
Giới
thiệu thực hành dược lâm sàng *
|
1
|
Môn
lựa chọn
|
4
|
Tổng
|
18
|
Học kỳ 6
|
|
Thực
hành dược tại labo VI
|
2
|
Điều
trị học: thần kinh, tâm thần
|
2
|
Điều
trị học: bệnh nhiễm khuẩn
|
2
|
Kỹ
năng thực hành lâm sàng III
|
2
|
Luật
và đạo đức dược
|
2
|
Quản
lý và tiếp thị dược
|
2
|
Nghề
nghiệp của sinh viên dược***
|
1
|
Môn
lựa chọn
|
5
|
Tổng
|
18
|
Năm thứ 4 (kỳ
7 và 8): Thực hành trải nghiệm
Kỳ
1 (hè): 12 tuần. Kỳ 2: 18 tuần. Kỳ 3: 18 tuần
Sinh
viên năm thứ 4 đi thực hành tại bệnh viện, phòng khám, nhà thuốc ở các cơ sở
tại Hoa Kỳ, hoặc các nước khác trên thế giới.
Sau
khi tốt nghiệp, dược sỹ cũng có thể tiếp tục theo học nội trú đa khoa 1 năm
hoặc chuyên khoa 2 năm.
|
|
*Sinh
viên phải hoàn thành 1 đợt thực tập trong năm thứ 1 và 1 đợt thực tập trong
năm thứ 3.
**Sinh
viên sẽ hoàn thành trong mùa hè trước đó, kỳ nghỉ mùa xuân và/hoặc mùa hè sau
năm thứ 2
***Sinh
viên hoàn thành 32 đơn vị học trình có giám sát và các hoạt động học tập về
quản lý nghề nghiệp trong các năm thứ 1 đến thứ 3.
Môn lựa chọn có thể chỉ thực
hiện trong 4 năm học chuyên nghiệp, kể cả các học kỳ mùa hè. Tổng số phải đạt
12 đơn vị học trình.
|
|
Một
số thách thức chính
- Theo quan niệm truyền thống,
bác sĩ thường coi bệnh nhân là “của mình”, và thực tế, bác sĩ mới hiểu đầy
đủ về bệnh tật, sức khoẻ, thói quen và điều trị một cách phù hợp cho bệnh
nhân. Do đó, khi thay đổi mục tiêu đào tạo dược sĩ tập trung vào bệnh nhân
thay vì thuốc, dễ làm cho bác sĩ có cảm giác có người “xen” vào trong quá
trình điều trị, tuỳ thuộc cá nhân và hoàn cảnh của từng nơi. Vì vậy, hợp
tác giữa bác sĩ và dược sỹ vẫn còn những bất cập và các rào cản về nhận thức.
- Niềm tin của bệnh nhân thường
đặt nơi bác sĩ. Do vậy, nhiều trường hợp bệnh nhân đã được dược sỹ tư vấn
về cách dùng một loại thuốc nào đó, nhưng khi cần, bệnh nhân lại hỏi bác sỹ.
Đây là một quá trình thay đổi quan niệm, nhận thức và đòi hỏi năng lực của
dược sỹ phải được nâng lên liên tục để đáp ứng nhu cầu.
- Để đáp ứng nhu cầu làm việc với
người bệnh, chăm sóc bệnh nhân về sử dụng thuốc, đòi hỏi dược sỹ phải được
đào tạo nhiều hơn về lâm sàng, kỹ năng giao tiếp.
- Việc đào tạo dược sỹ lâm sàng
cho các bệnh viện có những đòi hỏi về kiến thức và kỹ năng khác với dược sỹ
cộng đồng. Yêu cầu về kiến thức và
kĩ năng lâm sàng của dược sỹ cộng đồng không sâu bằng dược sĩ bệnh viện.
- Trong một số trường hợp, ranh
giới, trách nhiệm, vai trò giữa dược sỹ và bác sỹ trong việc điều trị bệnh
nhân cần được làm rõ, vì rất dễ dẫn đến những xung đột mang tính quan điểm
hoặc xung đột lợi ích.
- Theo qui định bảo vệ thông tin
và sự riêng tư, dược sỹ cũng như những cán bộ y tế khác, bị hạn chế tiếp cận
hồ sơ bệnh án vốn được quản lý qua mạng, hạn chế khả năng tham gia của dược
sỹ trong việc tư vấn dùng thuốc cho người bệnh tại cộng đồng.
- Chi trả cho bác sỹ mỗi lần đến
khám bệnh là một việc thường qui được cả người bệnh và công ty bảo hiểm thực
hiện từ lâu. Khi có sự tham gia của dược sỹ trong một số chương trình y tế
tại nhà, việc chi trả cho dược sỹ trở nên phức tạp hơn, vì chưa có qui định
nào như vậy. Hơn nữa, gánh nặng chăm sóc y tế lên ngân sách quốc gia và
gia đình đang ngày càng lớn, khiến xu hướng giảm chi phí y tế, chứ không ủng
hộ việc tăng chi phí.
· Tại
bệnh viện, dược sỹ đôi khi cũng rơi vào thế bị động, vì một bệnh nhân đã được
khám, chẩn đoán, kê đơn bởi bác sỹ. Khi dược sỹ tiếp xúc bệnh nhân để phỏng vấn,
trao đổi, bệnh nhân có thể không cảm thấy thoải mái vì nhiều người cùng hỏi một
vấn đề.
Tuy vậy, dược sỹ với bằng
PharmD đồng thời đã được học thêm nội trú từ 1 đến 2 năm rất được ưa chuộng tại
các bệnh viện. Số dược sỹ làm việc tại các bệnh viện chiếm tỷ lệ khá cao, ví dụ,
bệnh viện đại học Alabama với 908 giường bệnh, 690 bác sỹ và 116 dược sỹ
(2009).
Tài
liệu tham khảo
1.
Accreditation council for pharmacy
education (ACPE): Accreditation standards
and guidelines for the professional program in pharmacy leading to the doctor
of pharmacy degree. Chicago. Illinois 2006, and Guidelines Version 02,
March 2011.
2.
Barry L. Carter, PharmD; George R. Bergus, MD; Jeffrey D. Dawson, ScD;
Karen B. Farris, PhD; William R.
Doucette, PhD; Elizabeth A. Chrischilles, PhD; Arthur J. Hartz, MD, PhD2: A Cluster Randomized Trial to Evaluate
Physician/Pharmacist Collaboration to Improve Blood Pressure Control. The
Journal of clinical hypertension. VOL. 10
NO. 3 March 2008.
3.
The University of Iowa College of
Pharmacy 11/20/2009: Pharm.D. CURRICULUM
SUMMARY. www.pharmacy.uiowa.edu
4.
American Pharmacists Association: Pharmacy Today. December 2010. www.pharmacytoday.org
5.
Mickey C.Smith, David A.Knapp 1992: Pharmaceutical education. Pharmacy,
Drugs and Medical Care. 177-200.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét